Dược liệu

Thảo quyết minh vị mặn, tính bình, vào 2 kinh can và thận, có tác dụng thanh can, ích thận, khử phong, sáng mắt, nhuận tràng, thông tiện. Dùng chữa thong manh có màng, mắt đỏ, nhiều nước mắt, đau nhức, đại tiện táo bón. Người ỉa lỏng không dùng được hạt muồng.

Dầu thầu dầu: làm thuốc tẩy. Liều 10- 15g (trẻ con), 30- 50g (người lớn). Sau khi uống 2 giờ hãy uống nước.

Rau mồng tơi có vị chung hàn, hoạt, không độc chủ trị hoạt trung, tán nhiệt, lợi đại tiểu trường. Chữa trẻ con bị táo bón, phụ nữ đẻ khó, đau mắt (nước ép quả). Chữa sưng vú sưng nứt, giải độc.

Trong gỗ và thân rễ cây vù hương có 1-2% tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm dịu. Thành phần chủ yếu của tinh dầu vù hương là safrol với tỷ lệ lên tới 75%.

Dây đau xương là một vị thuốc mới trong nhân dân để chữa những triệu chứng của bệnh tê thấp, đau xương, đau người. Dây đau xương còn được dùng làm thuốc bổ. Dùng dưới hình thức thuốc uống hay thuốc xoa bóp. Người ta cho rằng thân cây dây đau xương có tác dụng mạnh hơn.

mẫu lệ được dùng làm thuốc chữa bệnh đau dạ dày thừa nước chua, bồi bổ cơ thể suy nhược, mồ hôi trộm, băng huyết. Mẫu lệ dùng ngoài chữa mụn nhọt, lở loét.

Thạch quyết minh (vỏ bào ngư) có vị mặn, tính bình, vào 2 kinh can và phế. Thạch quyết minh (vỏ bào ngư) có tác dụng bình can, tiềm dương, trừ nhiệt sáng mắt, thông lâm. Dùng chữa đầu choáng, mắt hoa, xương đau nhức, thong manh mờ mắt.

Ở nước ta ít dùng dầu và nhựa cây ba đậu tây làm thuốc Tại Côngô (châu Phi), hạt ba đậu tây dùng làm thuốc tây với liều 2- 3 hạt/ ngày

Cây cải bắp điều trị loét dạ dày, tá tràng, viêm dạ dày, ruột, đau đường mật, viêm đại tràng. 1 lit nước ép cải bắp chia làm nhiều lần trong ngày, mỗi lần 200- 250ml, uống thay nước.

Theo kinh nghiêm nhân dân, cây dạ cẩm dùng điều trị bệnh đau dạ dày, viêm lưỡi, loét lưỡi và họng

Sản phẩm khác