Rau mồng tơi có vị chung hàn, hoạt, không độc chủ trị hoạt trung, tán nhiệt, lợi đại tiểu trường. Chữa trẻ con bị táo bón, phụ nữ đẻ khó, đau mắt (nước ép quả). Chữa sưng vú sưng nứt, giải độc.

Tên khoa học: Basella rubra L. Họ Mồng tơi (Basellaceae).
Tên khác: mồng tơi đỏ- mồng tơi tía- lạc quỳ- phak pang (Lào).
Mô tả cây:
Mồng tơi là một dây leo, sống hàng năm hay hai năm. Thân mọc cuốn, dài 1,5- 2,0m. Thân có phân nhánh, màu xanh nhạt hoặc tím nhạt. Lá mọc so le, đơn, nguyên, mẫm, có cuống, phiến lá hình trứng, đầu nhọn, phía cuống bằng hay hơi hẹp lại, dài 3- 12cm, rộng 2- 6cm.
Cụm hoa hình bông mọc ở kẽ lá, nhỏ, màu trắng hay tím đỏ nhạt. Những bông ở phía trên dài và gầy hơn. Quả mọng, nhỏ, hình cầu hay hình trứng, dài chừng 5- 5m, màu tím đen khi chín.
Cây mồng tơi mọc hoang và được trồng ở Việt Nam.
Thành phần hóa học của cây mồng tơi:
Vitamin A3, B3, saponin, chất nhầy, sắt.
Công dụng của cây mồng tơi:
Trong nhân dân, thường ít dùng rau mồng tơi làm thuốc.
Theo sách cổ:
Rau mồng tơi có vị chung hàn, hoạt, không độc chủ trị hoạt trung, tán nhiệt, lợi đại tiểu trường.
Chữa trẻ con bị táo bón, phụ nữ đẻ khó, đau mắt (nước ép quả).
Chữa sưng vú sưng nứt, giải độc.