Dược liệu

Trong nhân dân, nhựa sung dùng chữa bệnh nhức đầu ( phết lên giấy bản, dán vào 2 bên thái dương) và một số bệnh ngoài da (chốc, nhọt, sưng đau, tụ máu- bôi trực tiếp).

Lá đậu cọc rào: giã nát đắp lên bụng để gây tầy cho trẻ em, có khi dùng chữa thấp khớp, đôi nơi dùng chữa thấp khớp, đôi nơi dùng nấu nước tắm ghẻ. Rễ đậu cọc rào: chữa tê liệt, bại liệt.

Hạt lạc( đậu phộng): làm thực phẩm Dầu lạc ( đậu phộng): làm dầu ăn, dùng trong công nghiệp chế thuốc (làm dung môi trong dầu tiêm, dầu xoa ngoài, xà phòng, thắp đèn, bôi máy)

Lộc mại( rau mọi) có tác dụng chữa táo bón, đau bụng, kiết lỵ cấp tính, da vàng. Lộc mại còn được dùng ngoài chữa lở ngứa (nấu đặc rửa)

Mai mực( ô tặc cốt) dùng để chữa đau dạ dày thừa nước chua, loét dạ dày chảy máu, ho lao lực, trẻ con chậm lớn, băng huyết. Mai mực( ô tặc cốt) còn được dùng làm thuốc chữa mờ mắt, tai chảy mủ.

Mật gấu vị đắng tính hàn, vào 3 kinh tâm, can và vị. Có tác dụng thanh nhiệt sát trùng. Dùng chữa mắt đỏ có màng, đau răng, đinh nhĩ, ác thường. Dùng trong chữa thấp nhiệt da vàng, lỵ lâu ngày, hồi hộp sợ hãi, co quắp. Mật gấu (Hùng đởm) chữa bệnh đau dạ dày, đau nhức, giúp sự tiêu hóa, giải độc, hoàng đản.

Thanh long được sử dụng trong nhân dân làm quả ăn tươi cho mát, đỡ khát nước, rất tốt đối với những người nhiều rôm sẩy, táo bón.

Nhân dân dùng vỏ cây dền sắc uống chữa kinh nguyệt không đều, thiếu máu, lá cây dềnsắc uống chữa đau nhức tê thấp. Miền Nam, Liên khu V dùng vỏ cây dền tán bột hoặc ngâm rượu chữa sốt rét và làm thuốc bổ.

Tại Mỹ và Anh người ta xem lá cây Gaultheria procumbens L.( cùng chi cây châu thụ) như là một vị thuốc chữa bách bệnh (dùng với tên Winter-green, The de New-Jersey, Thé du Canada): Điều kinh, thuốc ra thai, sát trùng, đặc biệt chữa tê thấp, lá dùng dưới dạng thuốc pha lOg trong 1 lít nước.

Nhân dân một số vùng ở tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang dùng rễ cây trứng cuốc chữa đau nhức gân xương, thấp khớp. Ngày dùng 20 đến 30g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.

Sản phẩm khác