Dược liệu gmp-hs


Ở nước ta ít dùng dầu và nhựa cây ba đậu tây làm thuốc Tại Côngô (châu Phi), hạt ba đậu tây dùng làm thuốc tây với liều 2- 3 hạt/ ngày

cây ba đậu tây

Tên khoa học cây ba đậu tây:

Hura crepitans L.

Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Tên khác:

Diệp tây, cây vông đồng, sablier.

Bộ phận dùng của cây vông đồng:

Hạt, nhựa mủ

Mô tả cây ba đậu tây:

Cây to, thân có gai. Lá hình tim hơi ba cạnh, mép có răng cưa, đầu nhọn, dài 20- 30cm, rộng 15- 20cm. Hoa đực mọc thành bông nhiều hoa, hoa cái mọc đơn độc. Quả nang, to cứng, gồm chừng 12- 20 mảnh hình múi nổi tròn, cao 5cm, rộng 10cm. Khi chín thì bật vỡ rất mạnh, phóng hạt đi khá xa. Hạt hình mắt chim, trên phủ lớp lông, vỏ cứng của hạt bao quanh hạt thành một gờ chừng 1cm.

Cây ba đậu tây phổ biến ở Việt Nam.

Thành phần hóa học của cây vông đồng:

-       Hạt ba đậu tây: 37,1% chất dầu béo; 25,63% protein, chất toxin độc (chưa được nghiên cứu sâu)

-       Vỏ thân, nhựa mủ: một chất có tác dụng diệt trừ sâu bọ nhưng chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

Công dụng và liều dùng của cây ba đậu tây:

Ở nước ta ít dùng dầu và nhựa cây ba đậu tây làm thuốc

Tại Côngô (châu Phi), hạt dùng làm thuốc tây với liều 2- 3 hạt/ ngày (liều cao hơn có thể gây ngộ độc, chết người)

Tại Indonexia, nhựa cây ba đậu tây làm thuốc trừ sâu.

Tại Braxin, nước sắc vỏ thân chữa hủi với liều 1- 5g.

Sản phẩm khác