mẫu lệ được dùng làm thuốc chữa bệnh đau dạ dày thừa nước chua, bồi bổ cơ thể suy nhược, mồ hôi trộm, băng huyết. Mẫu lệ dùng ngoài chữa mụn nhọt, lở loét.

Ostrea sp.
Thuộc họ Mẫu lệ Ostriedae.
Vỏ hầu, vỏ hà, hầu cồn, hầu cửa sông, hà sông.
Bộ phận dùng của con hầu:
Mẫu lệ là vỏ phơi khô của nhiều loại hầu hay hà như hầu cửa sông, hầu đá, hầu lãng….
Hầu cửa sông là một loại hầu vỏ to và dày, có nhiều hình dáng kích thước như tròn, dài, bầu dục… Do bám chen chúc vào nhau trên các vật bám khác nhau nên tạo ra những hình dáng khác nhau. Mạt ngoài của vỏ có màu sẫm. hầu nhiều tuổi có thớ vỏ xếp chồng lên nhau theo từng lớp. Mặt trong của vỏ có màu trắng, có vỏ màu vàng tím, óng ánh như xà cừ.
Hầu thích nghi ở nhiệt độ nước từ 10ºC - 35ºC và nồng độ muối từ 4%-24%, nếu nước nhạt quá hầu sẽ chết.
Hầu là động vật ăn tạp, ăn cả động vật và thực vật nhỏ lơ lửng trong nước, chủ yếu là các loại khuê tảo.
Mùa sinh đẻ từ tháng 7-10, nhiều nhất là 8-9.
Vỏ hầu hay mẫu lệ chứa 80-95% canxi cacbonat, canxi photphat và canxi sunfat. Ngoài ra còn có magie, nhôm và sắt oxit, chất hữu cơ. Nhưng khi nung lên thì không còn chất hữu cơ nữa.
Thịt hầu chứa 68% nước, 7% protit, 4% gluxit, 2% chất béo và 1% muối khoáng.
Trong đông y, mẫu lệ được dùng làm thuốc chữa bệnh đau dạ dày thừa nước chua, bồi bổ cơ thể suy nhược, mồ hôi trộm, băng huyết. Dùng ngoài chữa mụn nhọt, lở loét.
Theo tài liệu cổ, mẫu lệ vị mặn, chát, hơi hàn, vào 3 kinh can, đởm, thận, có tác dụng tư âm tiềm dương, hóa đờm, cố sáp. Dùng chữa cốt nhiệt, di tinh băng đới, mồ hôi trộm. Những người hư mà hàn, thận hư vô hỏa, tinh lạnh tự xuất thì không dùng được.
Ngày dùng 3-6g dạng thuốc sắc, thuốc bột hay thuốc viên.