Tính chất theo đông y: Vị đắng, hơi hàn, vào 2 kinh can và tỳ. Tác dụng phá huyết, sát trùng, thông kinh. Dùng chữa bệnh là ngứa hạ bộ, tiêu chướng. Trước dây nhân dân châu Âu rất hay dùng vị thuốc này, coi như có khả năng chữa bách bệnh. Hiện nay chì còn dùng làm thuốc xoa bóp.
Theo tính chất ghi trong sách cổ, ô rô vị cam (ngọt) khổ (đáng), lương (mát), chủ yếu chữa thổ huyết, máu cam, tiểu tiện ra máu, bị đánh hay ngã mà chảy máu băng đới; còn có tác dụng làm mát huyết, tiêu thũng, thông sữa.
Thường dùng cho phụ nữ sau khi sinh nở; sao vàng sắc uống cho ăn ngon cơm, chóng lại sức. Một vài vùng thường hái lá non về nấu canh ăn.
Phụ nữ đẻ ít sữa dùng lá mít nấu uống làm cho ra sữa hoặc thêm sữa. Gỗ và lá mít còn được dùng làm thuốc an thần, chữa huyết áp cao hay chữa những trường hợp co quắp
Hành khí, chỉ thống (giảm đau), hoạt huyết tán ứ. Dùng chừa bị đánh, ngã sưng đau, phong thấp, khí thống.
Duyên hồ sách chủ yếu còn được dùng trong y học cổ truyền: Theo YHCT, duyên hổ sách có tính ôn, vị cay, hơi đắng, không độc vào kinh phế, can và tỳ. Có tính chất hoạt huyết, tán ứ, lợi khí, giảm đau. Dùng trong những trường hợp đau bụng, khí hư.
Tác dụng cường dương, ích thận khử phong táo thấp, dùng chữa liệt dương, bộ phận sinh dục ẩm ngứa, phụ nữ lạnh tử cung, không có con, khí hư, xích bạch đới.
Bưởi bung là một vị thuốc được dùng trong nhân dân làm thuốc giúp sự tiêu hóa, phục hồi sức khỏe của phụ nữ sau khi sinh nở, dùng ngoài phối hợp với một số vị thuốc khác làm thuốc sát trùng lên da.
Tính chất theo đông y: Vị đắng, hơi hàn, vào 2 kinh can và tỳ. Tác dụng phá huyết, sát trùng, thông kinh. Dùng chữa bệnh là ngứa hạ bộ, tiêu chướng. Trước dây nhân dân châu Âu rất hay dùng vị thuốc này, coi như có khả năng chữa bách bệnh. Hiện nay chì còn dùng làm thuốc xoa bóp.
Tác dụng khử phong, trấn kinh gián, giải độc của rắn. Dùng chữa hàn nhiệt tích tụ trong bụng, trụy thai, trừ ác huyết, trị sang nhọt. Còn dùng ở phạm vi nhân dân.