Theo tính chất ghi trong sách cổ, ô rô vị cam (ngọt) khổ (đáng), lương (mát), chủ yếu chữa thổ huyết, máu cam, tiểu tiện ra máu, bị đánh hay ngã mà chảy máu băng đới; còn có tác dụng làm mát huyết, tiêu thũng, thông sữa.

Tên khoa học:
Circus japonicus. (DC) Maxim (Cnicus japonicum DC), họ Cúc Asteraceae (Compositae).
Tên khác:
Đại kế, thích kế, thiết thích ngãi, dã thích thái, thích khải từ, hổ kế, mã kế, dã hổng hoa, sơn ngưu bàng, hê hạng thảo.
Bộ phận dùng:
Đại kế (Herba et Radix Cirsii japonici) là toàn cây ô rô phơi hay sấy khổ bao gồm thân, cành, lá. cụm hoa và rễ.
Dạng sống và sinh thái:
- Ô rô là một loại cỏ sống lâu năm, rễ hình thoi dài, có nhiều rễ phụ, thân cao 58-100cm hay hơn; thân màu xanh, có nhiều rãnh dọc, nhiều lông. Lá ờ góc dài 20-40cm hay hơn, rộng 5- 10cm, hai lần xẻ lông chim, thành thùy, mặt trên nhẵn, mép có gai dài, lá ở thân không cuống, chia thùy. Càng lên trên càng nhỏ và chia đơn giản hơn. Cụm hoa hình đầu mọc ỏ kẽ lá hay đẩu cành, đường kính chừng 3-5cm. Lá bắc hẹp nhọn, không đều, lá ngoài ngắn và rất nhọn, lá bắc trong có đầu mềm hơn, tất cả đều ít lông, có gân chính giữa nối rõ. Cánh hoa màu tím đỏ. Quả thuôn dài 4mm, nhẵn, hơi dẹt.
Mùa hoa vào các tháng 5-7, mùa quả vào các tháng 5-9 ( Hình 27 ).
- Cây mọc hoang ở khắp miền bắc và miền trung nước ta. Còn mọc ở Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Quí Châu, Vân Nam v.v...), Nhật Bản.
Thành phần hóa học:
- Chưa thấy tài liệu nghiên cứu đối với vị đại kế. Tuy nhiên ở một loài khác (Cirsiu marvense Scop.) người ta chiết từ toàn cây được một loại glucozit gọi là tiliaxin, một men gọi là labenzym, tinh dầu, một ancaloit có trạng thái lỏng, nhựa, inulin và glucozit sinh axit xyanhydric (Theo VVehmer, 1931. Die Pflanzenstoffe Bd. II).
Công dụng và cách dùng:
- Đại kế hay ô rô được nhân dân dùng làm thuốc từ lâu đời. Vị này đã được ghi trong Danh y biệt lục (502-549) và Ban thảo cương mực (1596). Theo tính chất ghi trong sách cổ, ô rô vị cam (ngọt) khổ (đáng), lương (mát), chủ yếu chữa thổ huyết, máu cam, tiểu tiện ra máu, bị đánh hay ngã mà chảy máu băng đới; còn có tác dụng làm mát huyết, tiêu thũng, thông sữa.
- Có thể dùng cây và lá hay rễ tươi giã ép lấy nước hoặc phơi khô sắc uống.
- Mới đây trong quân y viện 108 người ta dã dùng ô rô sắc uống chữa phù thân có kết quả rất tốt.
Liều dùng:
Cây tươi 100 đến 180g, cây và rễ khô 40-60g. Có người chỉ dùng 6-12g cây khô sắc uống phối hợp với các vị khác.