Hạt qua lâu (qua lâu tử) dùng chứa các chứng bệnh: ho có đờm, đờm đặc tức ngực, sốt nóng, đại tiện táo bón.
Rễ qua lâu (cây qua lâu) dùng chứa các chứng bệnh sốt nóng, người háo khát, hoàng đản, miệng khô, hơi thở ngắn, sưng vúm trĩ dò, mụn lở.
Cây quế (vỏ quế và cành quế) dùng chữa các chứng bệnh do mệnh mông tướng hỏa (hỏa ở thận) không đủ, chân tay lạnh buốt, lạnh lưng đau gối, mạch nhỏ (vi), đau bụng nôn mửa, trên nóng dưới lạnh, khi bế, tiểu tiện khó khăn.
Lá quýt (quất diệp) chữa sưng vú, sắc uống.Xơ quả quýt chín (quất lạc) : chữa ho, đau tức ngực sườn, sắc uống.
Hạt quyết minh dùng chữa các chứng bệnh mắt nhìn không rõ, có màng mộng, nhức đầu do can nhiệt (nóng trong gan), mắt đỏ sưng đau, đại tiện táo bón. Hạt quyết minh dùng ngoài da (ngâm rượu) chữa hắc lào.
Rau dừa nước dùng cho người mới mắc và cả với người mắc bệnh đã lâu. Rau dừa nước chữa viêm bàng quang, đái buốt, đái rắt, đái ra máu,đái ra dưỡng chất…
Cây rau đắng (Biển súc) tác dụng: lợi niệu, trừ thấp nhiệt, chữa chứng bệnh đái rắt, đau buốt, nhỏ giọt (lâm) do thấp nhiệt, sỏi niệu đạo, viêm bàng quang. Ngoài ra còn chữa đau bụng, trẻ em cam tích do giun đũa.
Rau má chữa các chứng bệnh: vàng da (hoàng đản), sốt nóng, mụn nhọt, sởi, viêm gan, viêm amidan, chảy máu cam,... Rau má còn có tác dụng bồi dưỡng sức khỏe cho những người yếu mệt, ho lâu ngày..
Cây rau má lông chữa các chứng bệnh: Nhiễm khuẩn đường tiết niệu, đái buốt, đái khó,có sỏi, phong thấp viêm khớp, đau răng, thương tích, ngã đòn, gẫy xương, ho do lạnh, hen, sỏi mật, vàng da, phụ nữ bạch đới, chảy máu tử cung.
Vỏ núc nác (cây núc nác) chứa các chứng bệnh: vàng da, viêm họng, khô họng, ho, khản tiếng, trẻ em lên sởi, nôi ban, một số bệnh ngoài da.