Cây quế (vỏ quế và cành quế) dùng chữa các chứng bệnh do mệnh mông tướng hỏa (hỏa ở thận) không đủ, chân tay lạnh buốt, lạnh lưng đau gối, mạch nhỏ (vi), đau bụng nôn mửa, trên nóng dưới lạnh, khi bế, tiểu tiện khó khăn.

- Cinnamomum sp.
Cannellier – Cannelle de Ceylan (Pháp).
Vỏ thân,cành quế non.
Quế à một cây thân gỗ, thẳng đứng cao 12 – 20m, cành non có 4 cạnh, dẹt, nhẵn, lá hình trứng nhọn, dài, có 3 đường gân nổi rất rõ từ cuống đến đầu lá. Hoa màu trắng mọc thành chùy ở kẽ lá hay đầu cành. Quả hạch hình trứng dài khoảng 1cm, lúc đầu xanh lục, khi chín mầu tím.
Quế thanh mọc hoang và được trồng ở khắp vùng rừng núi nước ta.
1 Loại nhục quế vỏ lấy cách mặt đất 0,20 – 1,20m.
2. Quế chi : Vỏ bóc ở những cành nhỏ.
3. Quế thông là vỏ quế non mới 6 – 7 năm hay vỏ những cành nhánh, thường cuộn thành ống, vỏ mỏng ít dầu, mùi vị kém, hoặc lấy ở các cây quế thường.
4. Quế vụn : là loại quế đã vụn nát, thành mảnh nhỏ.
5. Quế tâm là lõi gốc đã bóc vỏ, là loại quế kém nhất.
chủ yếu là tinh dầu trong đó có aldehyd cinnamic, eugenol, safrol, furfurol. Ngoài ra còn có chất tinh bột, chất nhầy, tanin, chất màu, đường nhựa, calci oxalat.
Dùng chữa các chứng bệnh do mệnh mông tướng hỏa (hỏa ở thận) không đủ, chân tay lạnh buốt, lạnh lưng đau gối, mạch nhỏ (vi), đau bụng nôn mửa, trên nóng dưới lạnh, khi bế, tiểu tiện khó khăn.
Liều dùng : 1 – 5g,.
Bảo quản : Cần để nơi khô ráo râm mát.