Tại một số vùng, nhân dân dùng vỏ bàng sắc uống chữa ly, ia chảy và rửa các vết loét, vết thương.

Tên khoa học:
Terminalia catappa L, họ Bàng Combretaceae.
Tên khác:
Quang lang, chambok barang parcang prang (Cămpuchia), badamier (Pháp).
Bộ phận dùng:
Người ta thường dùng lá, vỏ cây và hạt.
Dạng sống và sinh thái:
- Bàng là một cây to, có thể cao tới 25m, cành mọc vòng làm cho tán cây xòe ra như cái lọng. Lá to hình thìa, đầu tròn, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lỏng hung nhạt phiến !á dài 20-30cm, rộng 10-13cm. Hoa nhiều mọc thành bông dài 15-20cm, trên cán bông hoa có lông. Quả hình bầu dục, nhẵn dẹt với hai bên dìa hẹp, đầu hơi nhọn, dài 4cm, rộng 3cm, dày 15mm, nhẩn, cơm màu vàng đỏ, có xơ. Hạch rộng 15mm, hạt có nhân trắng chứa nhiều dầu. Mùa quả: Tháng 8- 10.
- Cây bàng được trồng khắp nơi làm cây hóng mát. Người ta cho rằng cây bàng vốn không có ở nước ta, mà di thực từ đảo Moluques vào.
Thành phần hóa học:
- Lá và vỏ cây chứa tanin: vỏ thân chứa từ 25- 35% tanin pyrogaẳic và tanin catechic. vỏ cành chứa 11% tanin.
- Nhân hạt chứa 50% dầu béo màu vàng nhạt hay lục nhạt, vị dẻ chịu, giống như dầu hạnh nhân, ăn được. Tuy nhiên nhân chỉ chiếm 10% toàn quả cho nên cuối cùng toàn quả chỉ chứa chừng 5% dầu béo, việc tách nhân lại đòi hỏi nhiều công sức, chưa cơ giới hóa được cho nên đến nay việc khai thác dầu hạt bàng chưa được đặt ra. Một số tính chất của dầu nhân hạt bàng đã được nghiên cứu kết quả như sau: Tỳ trọng 0,917, chỉ số khúc xạ ở 35°c là 1,4660, độ đông đặc +]°c, chỉ số axit 2,94, chỉ số xà phòng 197,8, chi số iốt 60,72, phần không xà phòng hóa 0,38, axit toàn phần tách được ở dạng đặc, màu vàng nhạt hay trắng, phần axit đặc chiếm tới 36%.
- Do chỉ số iốt thấp và do không cho phản ứng hexabromua cho nên người ta có thể kết luận dầu bàng không có glyxerit linoleic và thuộc loại dẩu không khô.
Công dụng và cách dùng:
- Tại một số vùng, nhân dân dùng vỏ bàng sắc uống chữa ly, ia chảy và rửa các vết loét, vết thương.
- Ở Ấn Độ, Inđónêxia và Philipin người ta cũng dùng như vậy. Liều dùng hằng ngày 12-15g, sắc với 200ml, thêm ít đường cho để uống.
- Lá còn được dùng sắc uống chữa cảm Sốt làm cho ra mồ hôi, hoặc lá tươi giã nát, xào nóng để đắp và chườm vào nơi đau nhức.
Hạt dùng chữa ỉa ra máu (sắc uống), có thể dùng ép lấy dầu để ăn hay dùng trong công nghiệp.
Liều dùng:
- 12-15g, sắc với 200ml, thêm ít đường cho để uống.
Nhằm duy trì và nâng cao hiệu lực hệ thống quản lý an toàn thực phẩm, ngày 06/10/2026, Công ty Cổ phần Đầu tư và Sản xuất Âu Cơ đã thực hiện chương trình tái đánh giá hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 22000:2018.
Mùa thu năm 2026 đã nhẹ nhàng gõ cửa, mang theo không khí dịu mát và ánh trăng vàng rực rỡ của Tết Trung Thu – Tết của sự đoàn viên và tình thân. Khắp các con phố, sắc đỏ của đèn lồng, tiếng trống múa lân rộn rã và hương vị ngọt ngào của bánh nướng, bánh dẻo đã ngập tràn, nhắc nhở chúng ta về một mùa lễ hội ấm áp, chan hòa niềm vui đang đến gần.
Thực hiện theo kế hoạch đã được phê duyệt và trên cơ sở sự đồng ý của Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH - Công an thành phố Hà Nội, ngày 19/9/2026, Công ty Cổ phần Đầu tư và Sản xuất Âu Cơ phối hợp với lực lượng PCCC phường Xuân Phương tổ chức chương trình tập huấn, huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC và CNCH) cho cán bộ, nhân viên đang làm việc tại Công ty.
Chuối xanh là một trong những nguồn tự nhiên giàu tinh bột kháng (resistant starch) – đặc biệt là tinh bột kháng loại RS2, vốn chưa bị biến đổi do nhiệt độ hoặc quá trình chín.
Đa số mọi người uống thuốc đều chú ý tới cách sử dụng và liều lượng thuốc nhưng lại ít để ý tới nhiệt độ nước dùng để uống kèm. Trên thực tế, không nên dùng nước nóng để uống thuốc vì có thể gây ra các phản ứng vật lý hoặc hóa học làm ảnh hưởng tới hiệu quả thuốc.
Cũng như mọi năm, cuối năm luôn là cao điểm của sản xuất trên toàn bộ nhà máy Âu Cơ, từ các dạng viên nang, viên nén bao phim hay các dòng sản phẩm dạng dung dịch đóng lọ, dạng kem xoa bóp hay các dạng cốm, bột cho trẻ…