Cây chè (chè xanh) làm thuốc kích thích, tăng cườn sức làm việc trí não, tăng cường điều hoà nhịp tim, lợi tiểu và kích thích ăn ngon, chữa lỵ.
Cây chổi sể dùng chữa chảy máu cam, lở ngứa, kém tiêu, ỉa ra máu và kinh nguyệt không đều.Rượu chổi dùng xoa bóp chữa thấp khớp. Hoa chổi dùng làm thuốc điều kinh và ăn uống kém tiêu.
Cây cỏ tai hổ trị vết thương chảy máu;viêm tai giữa cấp và mạn tính, viêm họng, viêm mũi.
Cây cỏ the dùng chữa các chứng bệnh ho gà, viêm mũi, viêm màng tiếp hợp (mắt), chấn thương, đau lưng mỏi gối do phong thấp, rắn độc cắn.
Cây cỏ tóc tiên dùng chữa các chứng bệnh sốt nóng do âm hư, miệng khô đau họng, ho có đờm đặc, viêm phổi.
Cây củ gió chữa các chứng bệnh: Viêm họng (rất tốt). Ung nhọt độc, rắn cắn. Cây củ gió chữa sốt nóng, cảm nắng, đau bụng, bong gân, ho mất tiếng.
Quả chín của cây củ khởi (Fructs Lycii) phơi hay sấy khô, gọi là câu kỷ tử. Vỏ rễ cây củ khởi (Cortex Lycii radicis) phơi hay sấy khô gọi là Địa cốt bì.
Cây củ mài (hoài sơn) dùng chữa các chứng bệnh suy nhược cơ thể, tiêu hóa kém, tả ly lâu ngày, ho lâu ngày, yếu mệt, đái tháo miệng khát, di tinh, đái rắt, phụ nữ khí hư.
Cây dành dành (chi tử) dùng chữa các chứng bệnh sốt nóng, trong người buồn bực, mất ngủ, viêm gan vàng da khát nước và đái tháo nhiều (tiêu khát), đau mắt đỏ, thổ huyết, chảy máu cam, đi ly ra máu đỏ, nhiệt độc mụn nhọt, viêm thận, thủy thũng.
Cẩu tích (thân rễ cây lông cu ly) có tác dụng bổ gan, thận, mạnh lưng gối, trừ phong thấp.