Cây cỏ the dùng chữa các chứng bệnh ho gà, viêm mũi, viêm màng tiếp hợp (mắt), chấn thương, đau lưng mỏi gối do phong thấp, rắn độc cắn.

Centipeda minima (L.) A. Br. et Aschers.,
Cỏ the, Cóc mẩn, Cóc ngồi, Cây thuốc mộng
Toàn cây - Herba Centipedae Minimae.
Cây thảo chỉ mọc hằng năm, cao 5-20cm; cành hoa sát mặt đất. Ngọn có lông màu trắng nhạt. Lá nhỏ, mọc so le, khía 1-2 răng ở mỗi bên mép. Hoa hình đầu màu vàng nhạt, mọc ở ngọn hay ở bên, đối diện với một lá rất bé. Trong đó có 5 dãy hoa cái ở phía ngoài, ở giữa là hoa lưỡng tính hình ống. Quả bế, các quả phía ngoài hình 4 cạnh, và quả phía trên dẹp, tất cả đều có lông. Cây ra hoa từ cuối mùa xuân đến mùa hạ.
Thân lá bóp ra có mùi hôi do cây có tinh dầu và một chất màu nâu nhạt hay vàng nhạt có vị đắng, ít tan trong nước lã, tan nhiều trong nước nóng, rất tan trong cồn. Người ta đã xác định được trong cây có tarasterol, taraxasteryl acetat và arnidiol.
Theo đông y, cỏ the vị cay, tính lạnh. Có tác dụng trừ đờm, thông khiếu, trừ phong tiêu viêm, chữa sốt rét. Dùng chữa các chứng bệnh ho gà, viêm mũi, viêm màng tiếp hợp (mắt), chấn thương, đau lưng mỏi gối do phong thấp, rắn độc cắn.
10-15g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng, giã cây tươi đắp ngoài.