Dược liệu gmp-hs


Hà thủ ô dùng chữa các chứng bệnh yếu gan, viêm gan mãn tính, yếu thận lưng gối đau nhức, âm hư, sốt rét lâu ngày, thiếu máu, thần kinh suy nhược, di tính, bạch đới khí hư, râu tóc sớm bạc.

Tên khoa học của cây hà thủ ô:

Polygonum mutiflorum Thunb.

Họ Rau răm (Polygonaceae).

Tên khác của hà thủ ô:

Xích thủ ô – Dạ giao đằng – dạ hợp đằng

Bộ phận dùng:

Rễ củ của cây hà thủ ô (Radix Polygoni multiflori) phơi khô.

Mô tả của hà thủ ô:

Cây hà thủ ô là một loài dây leo, sống lâu năm, thân mọc xoắn vào nhau. Thân nhẵn màu lục hay hơi đỏ tía, có những vân hoặc bì khổng. Lá đơn, mọc so le, có cuống dài, phiến lá hình tim dài, đầu nhọn, dài độ 7cm, rộng độ 4cm, mép nguyên, mặt trên màu lọc sẫm, mặt dưới mầu nhạt, có khi phớt hồng tía, cả hai mặt đều nhẵn và không có lông. Hoa trắng nhỏ li ti, mọc thành chùm ở kẽ lá hay đầu cành. Quả nhỏ có 2 mặt hình thoi, mầu nâu, dài độ 1mm.

Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều vùng đồi núi nước ta.

Thành phần hóa học của hà thủ ô:

Rễ củ hà thủ ô chứa antraglucosid (1,7%) trong đó chủ yếu là chrysophanol, emodin và rhein. Ngoài ra còn có chất đạm (1,1%), tinh bột (45,2%), chất béo (3,1%), chất vô cơ (4,5%), lecitin.

Công dụng của hà thủ ô:

Theo Đông y, hà thủ ô vị đắng, ngọt, chát, tính ấm, sáp (làm săn), vào 2 kinh Can, Thận.

Có tác dụng bổ gan thận, thu liễm tinh khí, làm mạnh gân cốt, nuôi dưỡng khí huyết, làm đen râu, tóc.

Dùng chữa các chứng bệnh yếu gan, viêm gan mãn tính, yếu thận lưng gối đau nhức, âm hư, sốt rét lâu ngày, thiếu máu, thần kinh suy nhược, di tính, bạch đới khí hư, râu tóc sớm bạc.

Liều dùng: 10-12g, dùng sống hoặc đồ với đậu đen gọi là hà thủ ô chế, sắc uống.

 

 

Sản phẩm khác