Hạ khô thảo dùng chữa các chứng bệnh tràng nhạc, lao, bệnh nhiễm bụi silic, viêm amidan, mã đao, vú sưng tấy, mụn nhọt, đau mắt đỏ, chảy nhiều nước mắt, phụ nữ khí hư, bí đái, tăng huyết áp.

Prunelle vulgaris L. (hay Brunella vulgaris L. ),
Cả cành có lá và hoa tự của cây hạ khô thảo (Herba Prunellae) phơi khô.
Hạ khô thảo là một cây cỏ, sống lâu năm, cao độ 30 – 40cm, thân vuông, có lông nhung. Lá mọc đối chéo chữ thập, hình trứng dài, đầu nhọn, dài độ 2 – 5cm, rộng độ 1 – 1,5cm. Hoa tự hình bông, mọc ở ngọn, màu hơi tím.
Mọc hoang nhiều ở Tam Đảo, Hà Giang, Lào Cai. Dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc
Các alcaloid, saponin
Theo Đông y, hạ khô thảo vị đắng, cay, tính lạnh, vào 2 kinh Can, Đởm.
Có tác dụng thanh can hỏa (trừ nóng trong gan) làm tán uất kết, lợi tiểu, hạ huyết áp.
Nước sắc đặc hạ khô thảo có tác dụng kháng sinh mạnh.
Dùng chữa các chứng bệnh tràng nhạc, lao, bệnh nhiễm bụi silic, viêm amidan, mã đao, vú sưng tấy, mụn nhọt, đau mắt đỏ, chảy nhiều nước mắt, phụ nữ khí hư, bí đái, tăng huyết áp.
Liều dùng: 5 – 10g, sắc uống.