Nụ hoa đinh hương dùng chữa các chứng bệnh tỳ, thận hư hàn (lạnh bụng, lạnh lưng) nấc, nôn mửa, đau bụng, ỉa chảy, tức ngực, trẻ sơ sinh bị trớ đi tướt.

Nụ hoa cây đinh hương (Flos Caryophylli) phơi khô.
Cây đinh hương là một cây nhỡ, cao tới 12m, luôn luôn xanh tươi, thân nhẵn. Lá mọc đối, phiến lá hình trứng dài 5 – 12cm, đầu và cuống nhọn thót lại. Hoa tự mọc thành chùm ở đỉnh, hoa nhỏ màu tím. Nụ hoa đinh hương gồm 2 phần: phần dưới hình ống hơi có góc, dài 10 – 12mm, đường kính 2 – 3mm, phần trên hình cầu, đường kính 4 – 5mm, gồm 4 cánh hoa chưa nở. Để hoa và nhất là đài hoa chứa những túi lớn tiết tinh dầu, do đó khi lấy móng tay bấm nhẹ thì tinh dầu chảy ra.
Dược liệu phải nhập từ Trung Quốc
Nụ đinh hương chứa chất gôm, tanin, và 15 -16% tinh dầu. Thành phần chủ yếu là Eugenol (78-85p100), mùi đặc biệt của tinh dầu là do Eugenol. Ngoài ra còn có aceteugenol, alcool benzylique, caryophyllen ( 2-5p100), caryophyllin, salicylat và benzoat metyl, furfurol và một ít vanillin.
Quả đinh hương chỉ chứa 2 – 9% tinh dầu.
Theo Đông y, đinh hương vị cay, tính câm, vào 4 kinh Phế, Tỳ, Vị và Thận.
Đinh tử hương có tác dụng là ấm tỳ vị, bổ thận dương, đưa hơi đi xuống.
Đinh tử hương dùng chữa các chứng bệnh tỳ, thận hư hàn (lạnh bụng, lạnh lưng) nấc, nôn mửa, đau bụng, ỉa chảy, tức ngực, trẻ sơ sinh bị trớ đi tướt.
Liều dùng: 1 – 3g, sắc uống (khi sắc được thuốc rồi mới giã giập đinh hương cho vào sau).
Ngâm rượu để xoa bóp ngoài da. Tán nhỏ bôi để chữa phụ nữ nứt đầu vú.