Đào nhân (nhân hạt đào) chữa các chứng bệnh phụ nữ bị tắc kinh, sau khi để bị huyết ứ đọng, đau bụng, người bị chấn thương, ngã, đòn, bí đại tiện, viêm mạch máu, bị tắc do các cục máu.
Prunus persica (L) Batsch họ Hoa hồng ( Rosaceae)
Nhân hạt đã chế biến khô lấy từ quả chín của cây đào. (Semen Persicae).
Cây nhỡ, cao 3 – 4m, đâm nhiều cành nhiều hướng. Thân cành thường có nhựa trong đùn sùi ra, dính. Lá đơn, mọc cách, mép răng cưa, hình mác. Hoa thường nở trước khi có lá , mầu hồng nhạt, 5 cánh. Quả hạch, đầu nhọn, có một ngấn rãnh dọc một bên quả.
Vùng núi cao nước ta trồng nhiều đào có cả mọc hoang: Lào Cai, Lạng Sơn, Hà Giang v.v…
đào nhân (nhân hạt đào) chứa độ 50% dầu. Ngoài ra còn có amygdelin (3,5%), men emulsin, ít tinh dầu.
Lá đào có acid cyanhydric (độc), amygdalin, acid tanic, cumarin.
Theo Đông y, nhân hạt đào vị đắng, ngọt, tính bình, vào các kinh Tâm, Can.
Đào nhân có tác dụng hoạt huyết (lưu thông máu), trừ ứ, nhuận tràng.
Đào nhân chữa các chứng bệnh phụ nữ bị tắc kinh, sau khi để bị huyết ứ đọng, đau bụng, người bị chấn thương, ngã, đòn, bí đại tiện, viêm mạch máu, bị tắc do các cục máu.
Liều dùng: 4,0 – 8,0g.