Dược liệu gmp-hs


Đậu ván trắng (Bạch biển đậu) có tác dung bổ tỳ, trừ thấp, trừ nóng, giải độc.

Tên khoa học của cây đậu ván trắng:

Dolichos lablab L. ,

họ Cánh bướm (Papilionaceae).

Tên khác: Bạch biển đậu (TQ) – Bạch mai đậu – Nga mi đậu – Đậu bạch biển

Bộ phận dùng của cây đậu ván trắng:

Hạt già của cây Đậu ván trắng phơi khô (Semen Lablab Album)

Mô tả cây bạch biển đậu:

Cây đậu ván trắng là một loài dây leo sống 1 – 3 năm. Thân leo màu xanh có góc, hơi có rãnh, trên có lông thưa, dài và mềm. Lá mọc so le, lá kéo lông chim lẻ có 3 lá chét hình trứng, phía dưới hơi bè ra hình trám, bao giờ cũng có lá kèm. Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá và đầu cành, hoa hình bướm mới nở màu tráng, biến dần thành màu vàng nhạt. Quả loại đậu màu xanh nhạt, khi chín có màu vàng nhạt, dài 7 – 9cm, rộng 1,5 – 2,5cm, hơi cong về một phía giống hình lưỡi liềm, trên đầu có mỏ nhọn cong lên phía lưng quả, hai mép sần sùi. Quả chứa 2 – 4 hạt hình trứng hay hình thận, không cân đối, màu trắng ngà, rốn hình trái xoan màu trắng, ngay sát rốn là lỗ noãn màu nâu sẫm.

Đậu ván trắng được trồng ở khắp nơi trong nước ta, quả non để ăn, quả già lấy hạt làm thuốc.

Thành phần hóa học của hạt đậu ván trắng:

Trong bạch biển đậu có chất bột (57%), chất đạm (22,7%), chất béo (1,8%). Ngoài ra còn có calci, phospho, sắt, men tyrosinase, vitamin A, B2, C và nhiều vitamin B1, acid cyanhydric.

Công dụng của hạt bạch biển đậu:

Theo Đông y, bạch biển đậu vị ngọt, tính hơi ấm, vào 2 kinh Tỳ, vị.

Hạt bạch biển đậu có tác dung bổ tỳ, trừ thấp, trừ nóng, giải độc. Dùng chữa các chứng bệnh tỳ vị yếu, tiêu hóa kém, cảm nắng, miệng khát, nôn mửa, ỉa chảy, đau bụng hoắc loạn, phụ nữ khí hư.

Hạt bạch biển đậu còn dùng giải độc trong trường hợp say rượu, ngộ độc do cá nóc.

Liều dùng: 9 – 12 g, dùng sống hoặc sao vàng, tán bột hay sắc uống.

Sản phẩm khác