Cây đại hoàng dùng chữa các chứng bệnh người thể thực nhiệt (quá nóng) mà sinh táo bón, phát cuồng nói mê, ăn không tiêu, đau bụng, ly, hoàng đản, thủy thũng, phụ nữ tắc kinh.

Rheum sp. họ Rau răm (Polygonaceae)
1. Rheum palmatum L. – chướng điệp đại hoàng (TQ)
2. Rheum palmatum L. var tanguticum Maxi – Đường cổ đại hoàng (TQ)
3. Rheum officinale Baill – Dược dụng Đại hoàng (TQ)
Thân – rễ cây đại hoàng (Rhizoma Rhei) phơi khô.
-Cây đại hoàng Rheum palmatum Linn – là một cây cỏ sống lâu năm, rễ thô, to, thân cao tới 2m, giữa rỗng, mặt thân nhẵn. Lá ở phía dưới to, dài, có cuống dài, phiến lá hình tim nhưng cắt thành 3 – 7 thùy, mép thùy nguyên hơi có răng cưa hoặc hơi cắt; lá ở phía trên thân nhỏ hơn. Hoa tự mọc thành chùm, hoa lưỡng tính, màu lục trắng.
-Cây đại hoàng Rheum palmatum Linn. var. tanguticum Maxim. Cũng là một cây cỏ sống lâu năm, cao tới 2m, lá có phiến cắt rất sâu thành thùy.
-Cây đại hoàng dược dụng Rheum officinale Baill – cũng là một cây cỏ sống lâu năm, nhưng thấp hơn, cao độ 1,50m. Lá chẻ mọc so le, có cuống dài, phiến lá hình trứng.
Anthranoid, tanin.
Theo Đông y, đại hoàng vị đắng, tính lạnh, vào 5 kinh Tỳ, Vị, Can, Tâm bào, Đại trường.
Có tác dụng tả thực nhiệt (trong phần máu) tiêu chất tích đọng (trong dạ dày, ruột) tan máu ứ.
Dùng chữa các chứng bệnh người thể thực nhiệt (quá nóng) mà sinh táo bón, phát cuồng nói mê, ăn không tiêu, đau bụng, ly, hoàng đản, thủy thũng, phụ nữ tắc kinh,
Liều dùng: 3-12g, sắc uống hoặc tán thành bột, làm thuốc viên uống.