Quả đại hồi dùng chữa các chứng bụng, trướng đầy, nôn mửa, đau bụng do lạnh.

Illicium verum Hook. F. họ Hồi (Illiciaceae)
Quả chín đã chế biến khô của cây hồi (Fructus Anisi Stellati).
Cây nhỡ, cao 5 – 12m, thân thẳng. Lá mọc so le, phiến lá hình mác, nguyên, dày, nhẵn bóng, dài 8 – 12cm, rộng 2 – 4cm. đầu nhọn. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, cuống to, ngắn, 5 lá đài, 5 cánh hoa mầu hồng đỏ; quả kép thường gồm 8 đại, đường kính 2 – 4 cm, lúc non mầu xanh ve, khi già mầu nâu, mỗi đại dài 1,0-2,0cm, đầu nhọn, trong có 1 hạt nhẵn bóng, hình trứng.
Cây hồi được trồng nhiều ở các tỉnh miền Bắc nước ta, nhất là Lạng Sơn
Quả hồi chủ yếu chứa 3,0 – 3,5% tinh dầu (quả tươi) hoặc 9 – 10% (khô). Trong tinh dầu hồi có 80 – 90% anethol, còn lại là terpen, pinen, limonen, dipenten, estragol, safrol, terpineol…
Trans – anethol có nhiều nhất trong tinh dầu Hồi, Cis – anethol chỉ chiếm 3 – 4% tổng số anethol.
Theo Đông y, đại hồi vị cay, tính ấm, vào 4 kinh Can, Thận, Tỳ, Vị. Có tác sụng giúp tiêu hóa, trừ lạnh, khai vị.
Dùng chữa các chứng bụng, trướng đầy, nôn mửa, đau bụng do lạnh.
Ngoài ra trong thực phẩm, đại hồi còn được dùng để chế bột “húng lìu” (hương liệu).
Liều dùng: 4 – 8g (dạng sắc, bột, ngâm rượu)