Dùng lá cây bông ổi(cây ngũ sắc) giã nát đắp lên những vết thương, vết loét, người ta cho lá bông ổi có tính chất sát trùng lên da, cầm máu. Người ta còn dùng cây bông ổi (cây ngũ sắc) đắp nơi rắn cắn và cho vào nồi nước xông chữa cảm mạo, sốt.

Lantana Camara L.
Ngũ sắc, tràm hôi, cây hoa cứt lợn (Quảng Bình), tứ thời, tứ quý.
Cành và lá cây bông ổi.
Cây bông ổi là cây nhỏ mang nhiều cành ngang, có lông và gai ngắn quập về phía dưới. Lá cây bông ổi hình bầu dục, đầu nhọn, mặt xù xì, mép có răng cưa, mặt trên có lông ngăn, cứng, măt dưới lông mềm hơn, phiến lá đài 3-9cm, rộng 3-6cm, cuống lá ngắn, phía trên cuống có dìa. Hoa cây ngũ sắc không cuống, màu trắng, vàng, vàng cam hay đỏ mọc thành bông hình cầu gần giống như hình đầu. Hoa có lá bắc hình mũi giáo. Đài hình chuổng, có hai môi. Tràng hình ống có 4 thùy không đều. Quả hình cắu, màu đỏ nằm trong lá đài, mang hai hạch cứng, xù xì
Cây ngũ sắc nguồn gốc các nước Trung Mỹ, sau được phổ biển đi khắp các nước vùng Viễn Đông, Mangat, Tân Calêđônia. Tại Tân Calêđônia cây mọc hoang và phát triển tới mức độ chính phủ ờ đây phải ra lệnh triệt hết những cây này dù chỉ giữ một gốc dể làm cảnh cũng không được phép.
Tại Việt Nam cây ngũ sắc được trồng làm cảnh và mọc dại. Toàn thân cây tỏa ra một mùi đặc biệt có người ưa nhưng cũng có người không ưa.
Năm 1943 Low đã chiết được từ cây bông ổi một chất gọi là lantanin.
Một số nơi nhân dân dùng lá cây bông ổi giã nát đắp lên những vết thương, vết loét, người ta cho lá bông ổi có tính chất sát trùng lên da, cầm máu. Người ta còn dùng đắp nơi rắn cắn và cho vào nồi nước xông chữa cảm mạo, sốt.
Dùng ngoài không kể liều lượng.
Chú thích:
Cây ngũ sắc không có tác dụng chữa viêm xoang mũi như cây cứt lợn Ageratum conyzoides. Chú ý tránh dùng lầm.