Dược liệu gmp-hs


Cà dại hoa trắng (cà pháo)(Solatium torvum Swartz., họ Cà Solanaceae)dùng ngoài, giã nát lấy nước bôi lên chân tay nứt nẻ, nước ăn chân, nơi sâu bọ đốt.

cây cà dại hoa trắng

Tên khoa học cây cà dại hoa trắng:

Solatium torvum Swartz.

Thuộc họ Cà Solanaceae.

Tên khác:

cà pháo, trăng lao (Buôn ma thuột).

Bộ phận dùng:

Rễ cây cà pháo

Dạng sống và sinh thái của cây cà dại hoa trắng:

Cây nhỏ, cao 2-3m, thân ít gai, trên phù nhiều lông hình sao mang nhiều cành mềm, có lông. Lá mọc so le, hình trứng, không đều và lệch ở phía dưới, phiến lá dài 8-20cm, rộng 6-18cm, chia thùy nông, cuống lá dài l,5-10cm. Hoa trắng, mặt ngoài có lông, mọc thành chùm nhiều nhánh ờ kẽ lá. Quà hình cầu, đường kính 12-15mm, nhẵn khi chín có màu vàng. Hạt hình đĩa, có những đường nhăn nhỏ, đường kính 1,5-2mm. Mùa hoa quả: tháng 4-7.

Cây cà hoa trắng mọc hoang dại ở khắp nơi, tại những bãi trống, ven đường.

 

Thành phần hóa học của cây cà pháo:

Quả cà pháo chứa một lượng nhỏ sitosterol, một dầu béo và một ancaloit gần như solasonin (theo Krishnamurti G. V. et T. R. Seshadri, 1949, J Sci. Industr. Res. Part. B, hide, 8: 97-99).

Công dụng và cách dùng cây cà pháo:

Tại Malaixia nhân dân dùng quả cà pháo còn xanh để chế bột cary.

Ở nước ta chỉ mới thấy dùng ngoài, giã nát lấy nước bôi lên chân tay nứt nẻ, nước ăn chân, nơi sâu bọ đốt.

 

 

Sản phẩm khác