Dược liệu gmp-hs


Vỏ rễ cây chay nhai như nhai trầu có tác dụng làm cho chắc răng. Lá và rễ cây chay sắc uống có tác dụng chữa đau lưng, mỏi gối, tê thấp.

cây chay

Tên khoa học cây chay:

Artocarpus lonkinensis A. Chev.

Thuộc họ Dâu tằm Moraccae.

Tên khác:

Cây chay.

Bộ phận dùng:

Lá và rễ.

Dạng sống và sinh thái của cây chay:

Cây to cao 10-I5m, thân nhẵn, cành non có lông màu hung nâu, cành già màu xám. Lá mọc so le, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới có lông trên các đường gân. Hoa đực và hoa cái trên cùng một cây. Quả chín có màu vàng mềm, có lông nhung, cơm quà màu đỏ, ăn được.

Mùa hoa; tháng mùa quả; tháng 7-9

Cây chay mọc hoang dại và được trồng ở nhiều nơi đặc biệt ở miền núi Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Giang, Tuyên Quang, Thanh Hoá đc lấy quả, vỏ rễ màu đỏ dùng để nhai với trầu không.

 

Thành phần hóa học của cây chay:

Trong vỏ rễ cây chay có rất nhiều tanin.

Công dụng và cách dùng cây chay:

Chỉ mới thấy dùng trong phạm vi nhân dân. Vỏ rễ nhai như nhai trầu có tác dụng làm cho chắc răng. Lá và rễ sắc uống có tác dụng chữa đau lưng, mỏi gối, tê thấp. Ngày dùng 10-20g dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị khác như thiên niên kiện, thổ phục linh

 

Sản phẩm khác