Cây giổi(Talauma gioi Chev,họ Ngọc lan Magnoliaceae) dùng làm thuốc chửa đau bụng, ăn uống không tiêu, xoa bóp khi đau nhức, tê thấp

Talauma gioi Chev, (theo A. Chevalicr, 1918).
Hạt giổi. cây giổi.
Người ta thu hái và dùng làm thuốc gồm thân rễ, rễ và phần thân trên mặt đất, cắt và thái thành từng đoạn dài 10-20cm, đường kính l-3cm. Thường dược liệu bao gồm khoảng 63% thân rễ, 22% rễ và 15% thân trên măt đất. Thuốc vị nhạt, sau hơi hắc.
Giổi là một cây to, cao, có thể trên 20m, thân thẳng, vỏ xám nứt dọc. Lá hình thuôn, mặt trên màu lục bóng, mật dưới có lông tơ màu hung, cuống dài. Hoa to, mọc đơn độc ở đầu cành, cuống lớn có lông, Đài và tràng nạc, không phân biệt. Nhị rất nhiều và cứng, ổ phấn nứt dài, chỉ nhị ngấn và to. Lá noãn xếp xoắn ốc thành một khối hình trứng, vòi ngắn, tù và nhẵn. Mỗi lá noãn có hai noãn. Quả kép gồm nhiều đại khi chín hoá gỗ, dày, nứt theo đường bụng thành hai mành. Hạt dính liền với trụ giữa của đế.
Mùa hoa: tháng 4-5, mùa quả: tháng 9-10.
Cây mọc hoang dại ở khắp những vùng rừng núi thuộc tỉnh Hà Tây, Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Thanh Hoá.
Năm 1997, Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự Essent. Oil. Es. 9. 119-12I, JanlFeb, 1997) đã nghiên cứu thành phần hoá học của một số bộ phận trong cây giổi (lá, thân, vỏ, thịt và nhân quả) đã thu được như sau:
Thành phần thịt quà và hạt chứa chủ yếu safrol (70,2% và 72,9%) và metyl eugenol (24,2% và 18,5%). Camphor (23.2%) là thành phần chủ yếu cùa tinh dâu trích ra từ thân cây. Tinh dầu trích ra từ vỏ thân chứa 15,7% camphor, 14,3% safro), 15,6% p-caryophyllen và 13,7% elemicin. Tinh dầu cất từ lá có 10,9% p-caryophyllen và 46,3% elemicin.
Tại Hà Tây, Hoà Bình nhân dân, đặc biệt dân tộc Mường, thường dùng quà giã với muối dùng làm gia vị. Ngoài ra còn dùng làm thuốc chữa đau bụng, ăn uống không tiêu, xoa bóp khi đau nhức, tê thấp. Ngày uống 1 đến 3 quả hoặc dưới dạng bột, hoặc dưới dạng ngâm rượu (quả giổi 100g, rượu 40° 500ml, ngâm 7-10 ngày), mỗi ngày uống 3-5ml rượu này. Dùng ngoài xoa bóp không kể liều lượng.
Vỏ cây dùng làm thuốc chữa sốt, ăn uống không tiêu. Ngày dùng 6-10g dưới dạng thuốc sắc