Dược liệu gmp-hs


Quả tầm duột được dùng để ăn sống hoặc nấu canh cho mát, giải nhiệt chữa được chứng nhức đầu. Những bộ phận kháccủa cây tầm duột, nhân dân có dùng nhưng thường để chữa ngoài da. Lá tầm duột giã với hột liêu đáp lên những chỗ đau ở hông (lumbago) và ở háng.

cây tầm duột

Tên khoa học của cây tầm duột:

Phyllanthus distichus Muell, Arg. (Phyllanthus acidus Skeels, Cicca disticha L.)

Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.

Tên khác của cây tầm duột:

chum ruột, chum giuột, tầm ruộc, mak hôm (Vientian)

Bộ phận dùng: Lá, vỏ thân, rễ.

Mô tả cây tầm duột:

Tầm duột là một cây nhỏ, thân nhẵn. Cành có vỏ màu xám nhạt, trên có nhiều vết sẹo của lá cũ. Cành non màu xanh nhạt nhẵn. Lá mềm, mỏng, mặt trên màu xanh nhạt, mặt dưới màu nhạt hơn, dài 4-5cm, rộng 18-20mm, phía cuống tù hay hơi tròn, đầu phiến nhọn. Hoa mọc thành xim đơn nhị lệ trên những cành gầy nhỏ, dài 6-15cm. tụ thành từng cụm 4-7 hoa trên những mấu tròn, ở kẽ những lá đã rụng. Quả nang» 4 mảnh, khi chín có màu đen nhạt, đường kính 5mm có đài hơi đồng trường, cuống quà đài chừng 7mm

Thường mọc hoang và được trồng ở miền Nam để ăn quà. Có mọc và được trồng ò Lào. Tại miền Bắc (Hà Nội), một vài nhà cũng trồng để làm cảnh.

Tầm duột còn mọc ở nhiều nơi vùng nhiệt đới châu Á (Malaixia, Ấn Độ, Inđônêxia, Philipin) và ở đảo Mangat.

 

Thành phần hóa học của cây tầm duột:

Trong quả tầm duột có 89-91% nước, 0,73-0,90% chất protit, 0,61-0,76% chất lipit, 5,89-7,29% chất gluxit, độ chua biểu thị bằng axit axetic chừng 1,7%. Độ tro chừng 0.52-0,84%. Ngoài ra còn có chừng 40mg vitamin c trong lOOg quả (gần như trong bưởi và chanh).

Các bộ phận khác chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.

Công dụng và liều dùng của cây tầm duột:

Quả tầm duột được dùng để ăn sống hoặc nấu canh cho mát, giải nhiệt chữa được chứng nhức đầu.

Những bộ phận khác, nhân dân có dùng nhưng thường để chữa ngoài da. Lá tầm duột giã với hột liêu đáp lên những chỗ đau ở hông (lumbago) và ở háng.

Rễ tầm duột có độc tính, thường được nhân dân Malaixia dùng để xông chữa nhức đầu và ho, nhân đảo Giava dùng chữa hen (với liều rất nhỏ). Tại Ấn Độ, vỏ rễ thường được dùng để đầu độc. Người bị ngộ độc nhức đầu, ngày ngất, chết với những triệu chứng đau bụng mạnh.

 

Sản phẩm khác