Dược liệu gmp-hs


Lá cây chàm mèo dùng chữa các chứng bệnh cấp tính: sốt cao, nhức đầu, miệng khát, phát ban, chảy máu cam,lỵ, mụn nhọt độc, mẩn ngứa, viêm họng, nhiễm khauarn máu, viêm amiđan, viêm nhiễm đường hô hấp.

Tên khoa học của cây chàm mèo :

Strobilanthes flaccidifolius Nees (Strobilanthes cusia (Nees) Kuntze = Baphicacanthes cusia Bremek),

họ Ô rô (Acanthaceae)

Tên khác:

Mã lam - Bản lam (TQ)

Bộ phận dùng của cây chàm mèo:

Lá được chế biến khô gọi là Thanh đại, thân rễ và rễ gọi là Bản lam căn của cây chàm mèo (Rhizoma et Radix Strobilanthis) (=Rhizoma et Radix Baphicacanthis Cusae).

Mô tả cây:

Cây chàm mèo là một cây nhỏ, sống nhiều năm, cao 40-100cm, thân nhẵn, phân nhiều nhánh, cành, các mấu phình to lên. Lá mọc đối, phiến lá hình bầu dục thon, dài 10-12cm, mép khía răng. Hoa mọc thành bông màu lam tím, phía trên loe ra, có 5 thùy. Quả nang dài.

Cây mọc các nơi ẩm, vùng núi hoặc được trồng để nhuộm vải gọi là màu xanh chàm, ở các tỉnh vùng núi: Lao Cai, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lai Châu v.v...

Thành phần hóa học:

Lá: Chứa 1 glucosid gọi là indican, khi thủy phân indican sẽ cho glucose và indoxyl, chất indoxyl này khi bị oxy hóa sẽ cho indogotin có màu lam sẫm, ngoài ra còn có indirubin.

Công dụng của lá và thân chàm mèo:

Lá : Theo Đông y, lá chàm mèo (Thanh đại), vị đắng, tính rất lạnh. vào 2 kinh Tâm, Vị.

Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết.

Dùng chữa các chứng bệnh cấp tính: sốt cao, nhức đầu, miệng khát, phát ban, chảy máu cam,lỵ, mụn nhọt độc, mẩn ngứa, viêm họng, nhiễm khauarn máu, viêm amiđan, viêm nhiễm đường hô hấp.

Rễ: Theo Đông y, rễ chàm mèo (Bản lam căn), vị đắng, tính lạnh có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, giải độc.

Dùng chữa các chứng bệnh cấp tính: cúm, viêm não truyền nhiễm, viêm não B, ban sởi, mẩn, thương hàn, viêm amiđan, sưng quai bị.

Liều dùng:

Lá chàm mèo (Thanh đại) 5-10g

Rễ chàm mèo (Bản lam căn) : 8-15g

Sản phẩm khác