Hoa đại làm thuốc chữa ho, có thể làm thuốc chữa huyết hữu với liều 6-12g một ngày, dưới dạng thuốc sắc với 200ml nước, chia làm nhiều lần uống trong ngày
Tên khoa học:
Plumeria acutifolia Poir
Thuộc họ Trúc đào Apocynaceae
Tên khác:
Miến chi tử, kê đản tử, cây hoa đại, bông sứ, hoa sứ trắng, bông sứ đỏ.
Bộ phận dùng:
Vỏ thân, vỏ rễ sấy hay phơi khô.
Hoa đại phơi khô. Ngoài ra còn dùng nụ hoa, lá tươi.
Mô tả:
Cây nhỡ, cao 3-7m, cành mẫm, to. Lá mọc so le, sít nhau, thường tập trung ở đầu cành; lá dày, nguyên, hai đầu hẹp nhọn, mặt nhẵn bóng, gân giữa nổi rõ.
Hoa màu trắng rất thơm, mặt trong ở phía dưới màu vàng.
Quả đại dài hình trụ,
Mùa hoa ở miền bắc tháng 4-8
Thành phần hoá học chính:
Trong vỏ thân, Peckolt và Geuther đã tìm thấy một glucozit là agoniadin.
Oudman chiết được từ nhựa cây axit plumeric.
Người ta còn chiết được từ cây hoa đại một chất kháng sinh mới đặt tên là funvopluvomierin có tác dụng ức chế sự lớn lên của một số giống Mycobacterium tuberculosis.
Ngoài ra có một glucozit đắng gọi là plumerit.
Trong hoa có tinh dầu mùi thơm mát.
Công dụng:
Vỏ thân và vỏ rễ dùng dưới dạng thuốc sắc 5-10g vở trong 200ml, có tác dụng tẩy mạnh, tháo nước.
Hoa đại làm thuốc chữa ho, có thể làm thuốc chữa huyết hữu với liều 6-12g một ngày, dưới dạng thuốc sắc với 200ml nước, chia làm nhiều lần uống trong ngày
Lá cây hoa đại giã dán và đắp vào chỗ sai khớp, bong gân, mụn nhọt.
Nhựa dùng như vỏ thân nhưng với liều thấp hơn.