Dược liệu gmp-hs


Trong dầu cây lai có chất tẩy (chỉ cần 1- 5ml đủ gây tẩy) cho nên ít được dùng để ăn. Cây lai chủ yếu làm nguồn dầu pha sơn, ngoài ra có thể dùng nấu xà phòng.

cây lai

Cây lai

Tên khoa học cây lai

 Aleurites moluccana Willd. Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Tên khác:

 thạch lật (Trung Quốc)- ly (Thái)- sekiritsu (Nhật)- bancoulier à trois lobes.

 Mô tả cây:

- Cây lai mọc chậm hơn so với cây trầu, nhưng sau lại có kích thước to lớn hơn, có thể cao tới 10m và cũng sống lâu hơn. Khi còn non lá có màu lục xám nhạt, phủ đầy lông tơ, khi lá trưởng thành mặt trên bóng. Ở những cành non lá chia 3 thùy, nhưng ở những cành già thì lá hơi hình 3 cạnh, phía gốc lá tròn, phía đỉnh lá nhọn, cuống lá dài 6- 12cm.

- Cụm hoa chùm kép, dài 10- 15cm mang nhiều hoa. Quả hạch hơi hình cầu nhẵn, trong hạch có một hay hai hạt đường kính 3- 4cm.

- Cây lai được trồng phổ biến ở Việt Nam.

Thành phần hóa học:

Hạt cây lai: 55- 60% dầu béo, một chất có tác dụng tẩy mạnh

Công dụng và liều dùng:

Trong dầu cây lai có chất tẩy (chỉ cần 1- 5ml đủ gây tẩy) cho nên ít được dùng để ăn.

Cây lai chủ yếu làm nguồn dầu pha sơn, ngoài ra có thể dùng nấu xà phòng.

 

Sản phẩm khác