Dược liệu gmp-hs

mang-cut

Tên khác

Sơn trúc tử, mangoustanier.

Tên khoa học

Garcinia mangostana L. (Mangostana garcinia Gaertn.).

Thuộc họ Bứa Clusiaceae (Guttiferae).

Mô tả cây

Măng cụt là một loại cây to, có thể cao tới 20m. Lá dày, dai, màu lục sẫm, hình thuôn dài 15-20cm, rộng 7-lOcm.

Đăc điểm của cây này là người ta mới chỉ thấy cây cái. Người ta cho rằng trong số những nhị lép (staminode) bao quanh bầu có thể có bao phấn chứa phấn hoa.

Quả hình cầu, to bằng quả cam trung bình, vỏ ngoài màu đỏ sẫm, dẩy cứng, phía dưới có lá đài, phía đỉnh có đầu ngụy. Trong quả có tư 6-18 hạt, uanh hạt có áo hạt ăn được.

Người ta cho rằng cây măng cụt nguồn gốc ở các đảo La Sôngđơ và Môluyc (Malaixia, Inđônêxya) sau được các nhà truyền giáo đạo gia tô di thực vào miền Nam Việt Nam. Hiện nay được trồng rông rãi ở Nam Bộ. Còn thấy ở Philìpin, Inđônexya, Malaixia.

 Thành phần hóa học

Áo của hạt có vị ngọt, thơm ngon. Khi mới chín có màu trắng trong, nhưng sau ít ngày thì ngả màu vàng, kém thơm và có vị chát do đó khó chuyên chở đi xa. Thành phần hóa học chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.

Vỏ quả được nhiều người nghiên cứu hơn vì người ta hy vọng dùng nó để thuộc da. Trong vỏ quả có chứa từ 7-13% tanin. Tuy nhiên không được dùng thuộc da vì theo yêu cầu của những nhà thuộc da, nguyên liệu dùng để thuộc không được chứa quá một phẩn không phải tanin (tối đa) so với 2 phẩn tanin. Trong khi đó vỏ mảng cụt chứa trong phần tan ưong nước khoảng 13,61 % tanin và 14,59% không phải tanin (theo Bull. Office Colonial, số 136,tháng 4-1919).

Ngoài tanin ra, trong vỏ quả măng cụt, theo w. Schmidt còn có chất nhựa và chất mangostin (C20H2205), có tinh thể hình phiến nhỏ, màu vàng tươi, khổng vị, tan trong rượu, ête và chất kiềm, không tan trong nước. Độ chảy I75°c. Chất mangostin có thể chiết suất như sau: Lấy kiệt vỏ măng cụt bằng nước lạnh, sau bằng nước sôi. Hợp cả hai nước đó lại. Cô đậc và bốc hôi cho khô. Rửa cận bằng nước rồi hòa tan bằng rượu. Thêm nước và axit axetic vào dung dịch. Để một thời gian sẽ xuất hiện một đám tinh thể. Gạn và ép. Khi thêm vào chất mangostin dung dịch clorua ferie, sẽ có màu lục đen nhạt. Nếu thêm axit sunfuaric sẽ có màu đỏ.

 Công dụng và liều dùng

Tại nhiều nước Malaixia, Cămpuchia, Phiiipin, người ta dùng nước sắc vỏ măng cụt để làm thuốc chữa đau bụng đi ỉa lỏng, chữa lỵ, có khi còn dùng chữa bệnh hoàng đản (vàng da).

Sản phẩm khác