Cây cối xay họ Bông (Malvaceae) chữa các bệnh cảm mạo, sốt nóng, sốt cao, đau đầu, ù tai, sốt vàng da, tiểu tiện vàng đậm, phù thũng, đái buốt, phụ nữ đới hạ, lở ngứa.
Abutilon indicum (L) Sweet
Cả cây (phần trên mặt đất) tươi hay đã chế biến khô của cây cối xay (Herba Abutili indici)
Cây cối xay là một loại cây nhỏ, sống hàng năm hay l năm, thường mọc thành đám, quần thể đông, cao 0,50-1,50m, toàn thân và các bộ phận của cây (cành, lá…) đều có lông mềm. Lá mọc cách, phiến lá hình tim, mép khía răng cưa. Hoa nhỏ, vàng, mọc ở nách, cuống dài. Quả gồm gần 20 lá noãn dính nhau thành hình tròn, giữa hơi lõm xuống nom như cái cối xay lúa. Hạt nhỏ hình thận, mầu đen, đường kính độ 2mm.
Cây cối xay mọc hoang khắp nơi ở nước ta.
Lá + Rễ: chứa nhiều chất nhày và asparagin
Hạt chứa raffinose và dầu nửa khô gồm chủ yếu là glycerid của acid linoleic, oleic, palmitic, stearic
Theo Đông y, cối xay vị hơi ngọt, tính bình. Vào 2 kinh Tâm, Đởm.
Có tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy.
Chữa các bệnh cảm mạo, sốt nóng, sốt cao, đau đầu, ù tai, sốt vàng da, tiểu tiện vàng đậm, phù thũng, đái buốt, phụ nữ đới hạ, lở ngứa.
Lá: 5-15g (sắc uống).
Hạt: 2-4g (sắc uống).