Dược liệu gmp-hs

Đu đủ chín được coi là một món ăn bồi bổ và giúp sự tiêu hóa các chất thịt, các chất lòng trắng trứng, do không tiêu hóa được trong mấy ngày, phải ăn đu đủ mới hết.

du-du

Tên khoa học:

Carica papaya L., Thuộc họ Đu đủ Papayaceae

Tên khác: 

Phan qua thụ, lô hong phle (Campuchia), mắc hung (Lào), cà lào, phiên mộc.

Bộ phận dùng: 

Quả đu đủ xanh và chín, hạt đu đủ, hoa đu đủ, nhựa đu đủ, papain, chất ancaloit: cacpain.

Mô tả: 

-         Cây đu đủ cao từ 3-7m, thân thẳng, đôi khi có phân nhánh. Vỏ nang rất nhiều sẹo cảu cuống lá. Lá mọc so le ở ngọn cây, phiến lá to rộng chia làm 6-9 thùy, thùy hình trứng nhọn, mepps có răng cưa không đều, cuống lá rỗng và dài 30-50cm. Hoa trắng nhạt hay xanh nhạt, khác gốc. Hoa đực mọc ở kẽ lá thành chùy có cuống rất dài. Hoa cái có tràng dài hơn tràng của hoa đực, mọc thành chùy ở kẽ lá. Quả thịt hình trứng to, dài 20-30cm, đường kings 15-20cm. Thịt quả dày, lúc đầu có màu xanh lục, sau ngả màu vàng cam. Trong ruột quả có rất nhiều hạt đen to bằng hạt tiêu, xung quanh có lớp nhầy.

-         Nguồn gốc cây đu dủ là vùng nhiệt đới châu Mỹ, sau được phổ biến đi khắp nơi.

Thành phần hoá học chính:

-         Quả đu đủ chín chứa chừng 90% nước, các chất đường trong đó chủ yếu là glucoza 8.5%, một ít protein, chất béo, một ít muối vô cơ (Canxi, photpho, sắt ) vitamin A,B và C.

-         Trong hạt và các bộ phận khác người ta thấy các tế bào chứa chất myrozin và các tế bào khác chứa chất kali myronat. Khi giã hạt với nước, hai chất đó tiếp xúc với nhau sẽ cho tinh dầu có mùi diêm sinh, hắc, giống chất isothioxyanat allyl.

-         Trong rễ người ta thấy nhiều kalimyronat, trong lá nhiều myrozin, trong vỏ hạt nhiều myrozin và không có kali myronat.

Công dụng:

-         Đu đủ chín được coi là một món ăn bồi bổ và giúp sự tiêu hóa các chất thịt, các chất lòng trắng trứng, do không tiêu hóa được trong mấy ngày, phải ăn đu đủ mới hết.

-                   Đu đủ xanh nấu kỹ với thịt gà gần đây đựơc một số đơn vị quân y dùng điều trị bệnh loét dạ dày có kết quả. Tuy nhiên có một số trường hợp xuống cân.

Nhân dân còn dùng nấu với nhừng thịt cúng, cho chóng chín dừ. Quả đu đủ xanh nghiền với nước còn dùng bối nứt hoặc tay chữa các vết làn hương ở mật và tay.

-                   Nhựa đu đủ dùng làm thuốc giun nhung cần chú ý tránh nguy hiểm đối với trẻ em và người loét dạ dày. Có khi được dùng bôi ngoài chữa trai chân và hột cơm, bênh sang thấp (eczema) hoặc can tiễn (psoria­sis).

Tại Mỹ, nhựa đu đủ dùng trong kỹ nghệ chế bia, kỹ nghệ thực phẩm, kỹ nghệ thuốc, kỹ nghệ tơ sợi để làm cho sợi khỏi co, kỹ nghệ làm da. Hàng năm nhập 'tới hơn 50 tấn nhựa.

-                   Lá đu đủ dùng gói những thịt gà cứng để khi nấu chóng mềm, dừ. Nước sắc lá đu đủ dùng giặt những vết máu trên vải và quần áo, hoặc để rửa các vết thương, vết lở loét

Thái lá đu đủ cho nhỏ rồi trộn với thóc cho ngựa, bò ăn để chữa bệnh biếng ăn cùa bò ngựa. Rễ đu đủ sác uống làm thuốc cẩm máu trong bệnh băng huyết bệnh sỏi thận. Có nguời dùng rễ đu đủ chế giả nhăn sám vì rễ đu đủ giống hình người, uống cũng thấy đói, ăn ngon cơm.

-                   Hoa đu đủ đực tươi hoặc phơi khô hấp với đường hoặc đường phèn dùng chữa bệnh ho, viêm ống phổi, mất tiếng.

 

 

Sản phẩm khác