Mới thấy sử dụng trong nhân dân làm thuốc kích thích, bồi dưỡng và tẩy độc. Thường dùng chữa những trường hợp trong người thấy nôn nao, chóng mặt, muốn ngất xỉu. Còn dùng cho phụ nữ sau khi đẻ.

Tên khoa học:
Zinggiber zerumber Sm., thuộc họ Gừng Zingiberaceae.
Tên khác:
Riềng gió, ngải xanh, ngải mặt trời, riềng dại, khuhet phtu, prateal vong atit ( Campuchia), gingembre fou (Pháp), phong khương (Trung Quốc).
Bộ phận dùng:
Thân rễ.
Mô tả:
Cỏ cao 1-1,3m. Thân rễ củ, phân nhánh, màu trắng nhạt, trong ruột màu vàng nhạt.
Lá mọc sịt, gần như không cuống, thuôn dài đầu nhọn, phía trên màu xanh lục sẫm, hơi nhạt phía dưới, bẹ nhẵn, trừ phía trên có lông. Cán hoa dài 30-60cm, phủ đầy vẩy, mép có mang lông. Hoa màu vàng, lá dài hình ống dài 2m.
Mọc hoang dại ở khắp nươc Việt Nam, còn thấy mọc ở Ấn Độ, Inđonexya, Malaixia.
Thành phần hoá học chính:
Trong gừng gió có tinh dầu, mùi thơm và chất đắng.
Công dụng:
Mới thấy sử dụng trong nhân dân làm thuốc kích thích, bồi dưỡng và tẩy độc.
Thường dùng chữa những trường hợp trong người thấy nôn nao, chóng mặt, muốn ngất xỉu. Còn dùng cho phụ nữ sau khi đẻ.
Liều dùng:
Thường dùng thân rễ thái mỏng, ngâm nước trong rượu 40-50O với liều 40-50g tươi hay sấy khô trong một chai 650ml. Ngâm trong thời gian 15-20 ngày, gạn lấy rượu uống. Mỗi ngày dùng 2-3 ly nhỏ (mỗi ly 15-20ml)