Dân tộc miền núi vùng Nha Trang dùng lá và cây sắc uống chữa đau bụng.

Tên khoa học:
Anisomeles ovata R. Br.
Thuộc họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae).
Tên khác:
Cây cứt lợn, kiếm, san nga (Luang Prabang).
Bộ phận dùng:
- Bộ phận trên mặt đất.
Dạng sống và sinh thái:
- Cỏ thiên thảo cao 0,75 đến l,25mm. Thân vuông, có lông nhất là ở ngọn. Lá mọc đối, có cuống rõ, phiến hình bầu dục, có lông ở cả hai mật, dài 7-15cm, rộng 3-6cm. Hoa màu hồng hay hơi tía mọc thành vòng nhiều hoa sít nhau ở kẽ lá. Hoa không cuống, đài hình chuông, 5 răng. Quả bế tư, nhẵn.
Cây mọc hoang dại ở khắp nơi trong nước ta. Còn mọc ở nhiều nước nhiệt đới châu Á.
Thành phần hóa học:
- Từ 1963, Hồ Đắc Ân và cộng sự (1963, Bull.Soc Chim. Fr. 1192) đã chiết được từ lá cỏ thiên thảo một chất có tinh thể độ chảy 148-150°, có công thức thô C20H24O4, đặt tên là ovatodiolide. Năm 1965, H. Immer và cộng sự (Tetrahedron 21, 211, 7-2131) đã xác định chất ovatodiolide có một nhân vòng tới 14 cacbon, 4 nối kép và là một dilacton.
Công dụng và cách dùng:
Mới được dùng trong phạm vi nhân dân: Dân tộc miền núi vùng Nha Trang dùng lá và cây sắc uống chữa đau bụng. Tại Ấn Độ và Philipin, cây Anisotneles malabarica được dùng chữa đau bụng và chữa sốt cơn. Tinh dầu cây A. malabarica được dùng xoa bóp chữa thấp khớp, đau nhức. Còn dùng làm thuốc xông cho ra mồ hôi.