Dược liệu gmp-hs

Mộc tặc là một vị thuốc dùng trong nhân dân, có tác dụng lợi tiểu và cầm máu dùng trong bệnh chảy máu ruột và bệnh trĩ, còn dùng chữa đau mắt, ho hen, lỵ ra máu.

Tên khoa học:

Equisetum anvense L., thuộc họ Mộc tặc Equisetaceae.

Tên khác:

Tiết cốt thảo, mộc tặc thảo, bút đầu thái, cỏ tháp bút.

Bộ phận dùng:

- Cả cây.

Dạng sống và sinh thái:

Mộc tặc là một loài cỏ sống lâu năm, thân rễ dài, có đốt, nằm sâu dưới đất (60-80cm), xuất hiện lên mặt đất hai thứ cành: Cành bất thụ và cành hữu thụ. Cành bất thụ xuất hiện sau và dài hơn cành hữu thụ, có thể dài đến 20-30cm, chia thành từng dóng, mang ở mỗi mấu một vòng lá nhỏ hình sợi đính liển vào nhau tại phía gốc thành một thứ bẹ ôm lấy cành. Cành có thể có nhiều nhánh con, những nhánh này cũng mọc vòng từ các mấu. Các dóng của cành đều rỗng, chỉ ở ngang mấu thì dày, phía ngoài có nhiều rãnh dọc mỗi rãnh ứng với một lỗ khuyết trong phần vỏ.

Cành hữu thụ (xuất hiện trước cành bất thụ vào đầu mùa xuân) thường màu nâu không phân nhánh, mang nhiều vòng bào tử diệp xếp xít lại phía đầu cành thành một bông trông giống đầu nhọn bút lông.

Ngoài cây Equisetum arvense nói trên, ở vùng Sapa (Lào Cai) và một số vùng lạnh khác trong nước ta, tại những nơi âm ở ven bờ sông, còn gặp một loài mộc tặc nữa gọi là Equisetum debile Roxb, cùng họ

- Trong nước ta có mọc ở nhiều nơi, nhưng ít chứ ý dùng làm thuốc.

Thành phần hóa học:

Trong mộc tặc có các axit silixic, chất béo, phytosterol axit equisetic, chất saponin, gọi là equisetonin, các chất ancaloit equiselin và nicoỉin.

Ngoài ra còn có equisetrin (glucozit) C27H30O16 và isoquexitrin C21H20O12.

Trong mộc tặc Equisctum arvense L có các hợp chất flavon, saponin và một ít ancaloit:

1. Các hợp chất flavon có izoquexitrin, equisetrin, kaempferol 7-diglucozit, satragalin, populnin, kaempferol 3,7- diglucozit (Hegnauer R. Chemoiaxonomie der Pflanzen (I) 1962, 247, 476 và Saleh N. A. M. et al. Phytochemistry 1972, II. 1095).

2.Các saponin: Equisetonin 1-5% thủy phân cho arabinoza, fructoza và equisetonigenin C27H48O6, ngoài ra còn có một chất phá huyết khác (Hegnauer R.).

3. Các ancaloit: 0,00004-0,002% nicotin, palustrin, equisetin C17H31 O2N3, nhưng cũng có tác giả không xác nhận có palustrin.

Trong bào tử mộc tắc người ta chiết được

articulatin C11H22O13 và một lượng nhỏ izoarticulatin. Thủy phân articulatin ta sẽ được glucoza và một genin có công thức C15H1208. Ngoài ra trong bào tử còn một axit gọi là axit equisetolic (Bonnett R. et al. Phytochemistry, 1972, II, 2801).

Trong mộc tặc Equisetum hiemale L. người ta cũng chiết được một lượng nhỏ nicotin, dimetylsulfon (CH3)2SO2 axit cafeic, độ tro 18,2% (Hegnauer R. Chemotaxonomic der Pflanzen III, 1964, 251), một ít tanin và saponin (Trung Quốc kinh tế thực vật chi ,1961, 1630). Ngoài ra còn 3 loại flavor là kaempferol 3,7- Idiglucozit, kaempferol 3-glucozit, 7-diglucozit (Saleh N. A. M. et al. Phytochemistry, 1972, II, 1095).

Công dụng và cách dùng:

Tính chất theo tài liệu cổ: Vị ngọt hơi đắng tính bình, vào 3 kinh phế, can và đởm. Có tác dụng giải cơ, cầm máu, tan màng mắt. Dùng chữa mắt đau chảy nước mắt, trĩ, huyết lỵ, băng trung.

Mộc tặc là một vị thuốc dùng trong nhân dân, có tác dụng lợi tiểu và cầm máu dùng trong bệnh chảy máu ruột và bệnh trĩ, còn dùng chữa đau mắt, ho hen, lỵ ra máu.

Liều dùng:

Liều dùng mỗi ngày 5-l5g dưới dạng thuốc sắc.

 

 

 

Sản phẩm khác