Có tác dụng giảm sốt, giải độc, dùng uống hay giă nát đắp lên mụn nhọt.

Tên khoa học:
Asterocephalus cochinchinensis Spreng.)., thuộc họ Cúc Asteraccae (Compositae).
Tên khác:
Cỏ lưỡi mèo, địa đảm đầu, địa đảm thảo, bồ công anh, khổ địa đảm.
Bộ phận dùng:
- Toàn cây.
Dạng sống và sinh thái:
- Chỉ thiên là một loại cỏ cứng, cao 20-40cm. Thân mang nhiều cành ngay từ gốc; gần như không có lá, cành nhỏ mọc lan ra mặt đất, có lông. Lá gốc mọc vòng, hoa thị ở sát đất; phiến lá dài 6-12cm, rộng 3-5cm, phía dưới hẹp lại thành cuống rộng và ôm vào thân, mặt trên và mặt dưới đều có lông cứng màu tráng nhạt, lá mọc ở thân hẹp, nhỏ, tất cả các lá đều có răng cưa ở mép. Cụm hoa hình đầu gồm 4 hoa màu tím nhạt mọc dạng ra, thành nhánh dài 5-lOcm, tận cùng bởi một xim đơn. Quả hình thoi có 10 cạnh lồi. Chùm lông có sợi cứng, xếp thành một hàng, đều, phình rộng ở phía dưới.
- Cây chỉ thiên rất phổ biến ở Việt Nam, từ Nam đến Bắc. Thường mọc hoang ở ven đường cái hay ở những bãi cỏ khô. Còn mọc ở nhiều nước nước châu Á-miền Nam Trung Quốc. Malaixia, Philipin, Ấn Độ, Inđonexya, Miến Điện, Thái Lan v.v...
Thành phần hóa học:
- ít thấy tài liệu nghiên cứu. Từ rễ chỉ thiên, người ta đã chiết được một tinh thể không màu có tính chất glucozit. Không có ancaloit. Hoạt chất chưa rõ.
Công dụng và cách dùng:
- Chỉ thiên mới được dùng trong phạm vi nhân dân.
Theo đông y, chỉ thiên có vị đắng, tính lạnh không có độc. Có tác dụng giảm sốt, giải độc, dùng uống hay giă nát đắp lên mụn nhọt.
Thường dùng chữa những triệu chứng nhiệt như đổ máu cam, nồn ra máu, tiểu tiện khó khăn, sốt.
Liều dùng:
Liều dùng trung bình: Ngày uống 50g tươi sao vàng sắc với 3 bát (600ml) nước, cô đặc còn 200ml, chia làm nhiều lần uống trong ngày.
Dùng ngoài thì giă nát đắp lên mụn nhọt, không kể liều lượng.
Những bệnh có tính chất lạnh (hàn) không dùng dược.