Làm thuốc chữa sán.

Tên khoa học:
Punica granatum L., họ Lựu Punicaceae.
Tên khác:
Bạch lựu, tháp lựu, lựu chùa Tháp.
Bộ phận dùng:
Dùng vỏ thân, vỏ cành, vỏ rễ phơi hay sấy khô (Cortex Granati) hay có khi dùng vỏ quả lựu phơi hay sấy khô (Pericarpium Granati). (Vỏ, thân và rễ lựu có độc, dùng phải cẩn thận).
Dạng sống và sinh thái:
- Cây lựu là một cây thuộc mộc, cao chừng 3- 4m, cây nhỏ, có khi có gai. Lá dài, nhỏ, mềm mỏng, đơn, mép nguyên có khi mọc thành cụm nhưng thường mọc so le hoặc hơi mọc đối, cuống ngắn. Mùa hạ nở hoa màu đỏ tươi hoặc màu trắng (bạch lựu) hoăc mọc riêng lẻ hoặc từng xim có độ 3 hoa.
Quả to bằng nắm tay. Đầu quả còn 4-5 lá đài
ồn tại. Vỏ dày, ngoài da sắc lục, khi chín có màu vàng đỏ lốm đốm. Trong quả có 8 ngăn xếp thành hai tầng, tầng trên có 5 ngăn tầng dưới có 3. Các loại ngăn phân cách bởi các màng mỏng, hạt rất nhiều, hình 5 cạnh, sắc hồng trắng.
- Được trồng ở khắp nơi để làm cành và lấy quả.
Thành phần hóa học:
- Vỏ rễ, vỏ thân và vỏ cành có chứa chừng 22% tanin (axit galatanic hoặc digalic và axit punicotanic).
Ngoài ra còn chứa các chất ancaloit:
Peletierin C8H15ON
Isopeletierin C8Hl5ON
- Trong vỏ quả có chừng 28% tanin và chất màu.
Công dụng và cách dùng:
- Làm thuốc chữa sán.
- Làm thuốc ngậm chữa đau răng, chữa đi ngoài, đi lỵ.