Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chủ trị yết hầu sưng đau, ho nhiệt mất tiếng. Dùng ngoài đắp những mụn nhọt sưng đau.

Tên khoa học:
Tinospora sagittata (Oliv.) Gagnep, họ Tiết dê Menispermaceae.
Tên khác:
Tam thạch cô, thanh ngưu đởm, cừu ngưu đờm, kim chư đởm, sơn từ cô, củ gió.
Bộ phận dùng:
Củ.
Dạng sống và sinh thái:
- San sư cố là tên đồng bào Mèo vùng chợ Mường Khương (Lào Cai) thường gọi cây này. Đây là một loại dây leo, sống nhiều năm, luôn xanh tươi, thân dài từ l-4m. Thân rễ dưới đất có thể mọc dài tới l,5m, thỉnh thoảng phình to lên từng đốt hình củ tròn to bằng ngón tay cái, có khi thành một -dãy gồm 5 đến 9 củ, màu vàng nhạt, khi cắt có màu hơi trắng, vị đắng. Thân trên mặt đất màu xanh lục nhạt, khi non có lông ngắn. Lá đơn, mọc cách, cuống lá dài 2-5cm, phiến lá hình mác nhọn, gốc lá hình chữ V, phiến lá dài 5-15cm, rộng 2-5cnm. Hoa đực, cái khác gốc, hoa đực mọc thành chùm nhiều hoa có cuống đài 2-5cm, hoa cái cũng mọc thành chùm gồm 4 đến 10 hoa. Quả tròn, cuống quả có đầu phình ra, quả chín có màu hồng đỏ.
Mùa hoa: Tháng 3 đến tháng 5 mùa quả vào tháng 11-12.
- Mọc hoang ở một số tỉnh miền núi cao mát như Lào Cai ( Mường Khương), Hòa Bình (Ba Vì).
Thành phần hóa học:
- Trong củ san sư cô có chất columbin C20H22O6. Họat chất khác chưa rõ.
Công dụng và cách dùng:
- Theo tài liệu cổ: San sư cô có vị đắng, tính lạnh, vào 3 kinh tâm, phế và vị. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chủ trị yết hầu sưng đau, ho nhiệt mất tiếng. Dùng ngoài đắp những mụn nhọt sưng đau.
Nhân dân thường dùng chữa lỵ, ỉa chảy dưới dạng thuốc sắc, với liều 3 đến 6g (2 đến 3 củ) trong một ngày. Còn dùng chữa trâu bò đấy trướng, viêm ruột, tả lỵ.
- Dùng ngoài dã nát đắp lên nơi sưng đau,