Cánh kiến trắng (nhựa thân cây bồ đề) dùng chữa các chứng bệnh: viêm khí quản mạn, người già tức ngực, khó thở, phụ nữ bị ngất choáng sau khi đẻ.
Styrax tonkinensis Pierre,
An tức hương (TQ)
Nhựa thơm đã chế biến khô (Benjoinum) lấy ở thân cây Bồ đề.
Cây bồ đề là một cây khá lớn, thân gỗ cứng, cao 10-20m. Lá mọc so le có cuống, phiến lá nguyên hình trứng, nhọn dài ở đầu không cuống, mặt trên màu lục nhạt, mặt dưới màu trắng nhạt, do có nhiều lông mịn, khi gió thổi bật lên từ xa trông thành cả một mảng trắng. Lá dài 8-15cm, rông 2-4,0cm. Hoa nhỏ màu trắng, thơm, mọc thành chùm. Quả hình cầu cỡ 10-16mm đường kính.
Cây Bồ đề mọc hoang và được trồng thành rừng ở các tỉnh miền núi miền bắc nước ta: Lao Cai, Yên Bái, Phú Thọ...
Acid thơm (acid benzoic 36%, acid cinamic 3%), vanilin.
Theo Đông y, cánh kiến trắng: vị cay, đắng, tính bình, vào các kinh Can, Tỳ.
Có tác dụng: khai khiếu, cấp cứu hồi sinh, ngoài ra còn trừ đờm, lưu thông máu, giảm đau.
Dùng chữa các chứng bệnh: viêm khí quản mạn, người già tức ngực, khó thở, phụ nữ bị ngất choáng sau khi đẻ.
Dùng ngoài da: sát khuẩn nhẹ, làm các vết thương mau lành.
từ 1-3g (thường dùng bột hay hoàn)