Nhân dân dùng hạt trị giun đũa, giun kim và sán xơ mít.

Tên khoa học:
Embelia ribes Burm, họ Đơn nem Myrsinaceae.
Tên khác:
Cây chua meo (tên ở Lạng Giang. Bắc Giang), cây phi tù, cây chua ngút - vốn vén, cấm cùi (Thổ), xồm mun (Thái).
Bộ phận dùng:
Người ta dùng quả phơi hay sấy khô của cây thùn mũn.
Dạng sống và sinh thái:
- Cây mọc hoang ở các đồi thành từng bụi cao chừng l-2m. Thân màu tía tím thỉnh thoảng có cành đỏ tươi hơn, trông như hơi mốc. Có vạch dọc rất rõ, bì khổng nhỏ như hạt kê. Lá mọc so le, hình lưỡi mác, mặt dưới nhạt hơn, dài 4,5- 5cm, rộng l,5-2cm. Phiến ở phía cuống hẹp nhọn. Cuống ngắn 5-6mm.
Khi quả chín hái về xát sạch vỏ, phơi khô; khi dùng tán nhỏ. Vị lúc đầu ngọt sau chua và hơi tê.
- Cây keo dậu mọc hoang và được trồng khắp nơi trong nước ta để làm hàng rào, làm phân xanh bóng mát.
Thành phần hóa học:
- Trong quả có tanin, tinh dầu và axit embelic (còn gọi là embelin hay embelon=dihydroxy 2- 5-lauryl 3-benzo quinon 1-4) một chất có cấu tạo quinonic.
Công dụng và cách dùng:
- Nhân dân dùng hạt trị giun đũa, giun kim và sán xơ mít. Tới hôm trước nhịn, sáng sớm hôm sau uống 5g bột trên với mật hoặc đường.
Ở Bắc Ninh có nơi uống tới 3 thìa xúp gạt ngang.
Liều dùng:
- Trẻ con uống 2-2,5g.