Dược liệu gmp-hs

Thuốc chữa những bệnh ngoài da, những vết loét, vết thương. Thường dùng rễ hay lá giã nhỏ với cơm cho thành một thứ bột nhão, đắp lên những nơi sưng đau

Tên khoa học:

Plumbago zeylanica L., (Thela alba Lour.), họ Đuôi công Plumbaginaceae.

Tên khác:                                             

Bạch tuyết hoa, cây chiến (Bắc Lệ. Lạng Sơn), cây đuôi công, pit phì khao (Luang Prabang), xitraca (Ấn Độ).

Bộ phận dùng:

Toàn thân.

Dạng sống và sinh thái:

- Bạch hoa xà là một loài cỏ sống dai, cao 0.30- 0,60m, có thân rễ, thân có đốt và nhẵn. Lá mọc so le, hình trứng đầu nhọn, phía cuống hơi như ôm vào thân, mép nguyên, không có lông, nhưng mặt dưới hơi trắng nhạt. Hoa màu trắng, mọc thành bóng ở đầu cành hay kẽ lá, dài hoa có lông dài, nhớt. Tràng dài gấp 2 lần đài. Mùa hoa gần như quanh năm nhưng nhiều nhất vào các tháng 5-6.

- Cây mọc hoang ở khắp nơi ở Việt Nam: Nam,bắc, miền núi, miền đồng bằng đều có. Còn thấy ở Ấn Độ, Malaixia, nam Trung Quốc. Nhật Bản, Inđônêxya, châu Phi.

Thành phần hóa học:

- Trong rễ cây bạch hoa xà có một chất gọi là plumbagin hay plumbagon hoặc ophloxylin.

Plumbagin có công thức mytyl-2-juglon hay mety l-2-hyddroxy-5-naphtoquinon-1 -4.

- Plumbagin hắc và gây xung huyết da. Dung dịch plumbagin trong nước tiêm vào bụng chuột (trắng có chửa sẽ gây chết thai và rối loạn buổng trứng (Japanese J. Obstetr. and gynecol. 16 (3), 1933: 254- 257).

- Tại Ấn Độ, người ta dùng plumbagin chiết từ rễ bach hoa xà để điểu trị khối u ung thư thực nghiệm trên chuột làm giảm 70%.

Công dụng và cách dùng:

- Cây bạch hoa xà mới chỉ thấy được dùng trong phạm vi nhân dân làm thuốc chữa những bệnh ngoài da, những vết loét, vết thương. Thường dùng rễ hay lá giã nhỏ với cơm cho thành một thứ bột nhão, đắp lên những nơi sưng đau. Có nơi sắc rễ lấy nước bôi ghẻ, lá bạch hoa xà giã nát đắp lên đầu chốc lờ đã rửa sạch sẽ thấy nóng thì bỏ ra. Do nhựa của cây bạch hoa xà làm chậm sự thành sẹo cho nên một số dân châu Phi đã dùng nhựa cây này bôi lên các hình vẽ trên người bằng dao

cạo để cho hình nổi lên nó có tác dụng tầng sinh trưởng những tổ chức đã bị rạch.

- Tại một số nước châu Phi, nhân dân dùng bột rễ cây này trộn với chất nhầy của một loại dâm bụt (Hibiscus esculent us) có nơi gọi là cây mướp tây (có trồng ở Việt Nam lấy quả ăn được) để đắp lên các vết hùi, sau đó người ta dập lẫn đó một loại lá khô của một cây có nhựa chưa xác định được tên khoa học, nhưng dân Nigiêria (châu Phi) đã gọi tên là cây Niêcca.

Tại Ấn Độ và Nhật Bản, người ta dùng rễ cây này làm thuốc sẩy thai: Cho uống bột rễ cây này hay tán một ít bột cho vào khoang tủ cung, thai sẽ tự ra do bị kích thích, nhưng hay gây ra viêm tử cung có khi chết người.

 

Sản phẩm khác