Dược liệu gmp-hs


Dùng trong phạm vi nhân dân để chữa rắn cắn: Lá giã nát vắt lấy nước uống, bã đắp lên vết cắn.

Tên khoa học:

Rreynia fruiicosa Hool. F. (Phyllanthus introductis Steu d. Phyllanthus turbinatus Sima., Phyllanthus simsianus Wall.), họ Thầu dầu Euphorbiaceae.

Tên khác:                                             

Đỏ đọt, mào gà, bồ long anh, sâu vẽ, bọ mảy.

Bộ phận dùng:

Toàn cây

Dạng sống và sinh thái:

- Bồ cu vẽ là một cây nhỏ, thân nhẵn. Lá có hình dáng và kích thước thay đổi, đầu nhọn, phía cuống tù hay nhọn. Chiều dài của lá từ 3- 6cm, rộng 20-45mm, cuống rất ngắn, màu nâu sẫm hay đen. Mặt dưới lá thường có đường vẽ đen do một loại sâu bò để vết lại. Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá, gồm 5-6 hoa đực và 1-3 hoa cái, đính trên một cành nhỏ, với những lá bắc khô xác. Quả khô, hình cầu dẹt, màu đen nhạt, đường kính 5mm, phía cuống bao bọc bởi một đài cùng phát triển. Hạt màu nâu nhạt 3 cạnh, cao 3mm trên có phù một áo hạt màu vàng cam

- Cây mọc hoang ở khắp nơi trên miền Bắc và miền Trung nước ta. Hình như không thấy mọc ở miền Nam. Rải rác thấy có ở Lào và Campuchia. Còn thấy ờ Malaixia, Trung Quốc, Philipin. Người ta dùng lá tươi, hái quanh năm

Thành phần hóa học:

Chưa chấy có tài liệu nghiên cứu.

Công dụng và cách dùng:

- Còn dùng trong phạm vi nhân dân để chữa rắn cắn: Lá giã nát vắt lấy nước uống, bã đắp lên vết cắn.

- Mới đây Viện ký sinh trùng sốt rét Việt Nam thí nghiệm sơ bộ thấy cây này có tác dụng chữa bệnh giun chỉ.

- Nhân dân Philipin dùng vỏ thân cây sắc làm thuốc cầm máu, vì có chất chát.

- Vỏ cây bồ cu vẽ cạo lấy bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét thì chóng khỏi.

Liều dùng:

30-40g tươi

 

Sản phẩm khác