Cành lá trắc bá: chữa chảy máu cam, lỵ ra máu, rong kinh, băng huyết. Nhân hạt trắc bá: an thần, chữa mất ngủ, đại tiện bí, mồ hôi trộm.

Thuja orientalis L. họ Trắc bá (Cupressaceae).
Trắc bách.
Lá và nhân hạt già.
Cây trắc bá là một cây nhỡ quanh năm xanh tốt, sống hàng trăm năm,. Thân thẳng phân nhánh sang hai bên theo mặt phẳng, (trắc = bên cạnh). Lá mọc đối, dẹt, hình vây màu xanh sẫm. Hoa nhiều.. Quả tròn nhỏ hơn 1cm.. Hạt hình trứng, không có cạnh, màu nâu sẫm.
Cây trắc bá thường được trồng ở khắp nơi nước ta.
1. Lá trắc bá: thu hái quanh năm. Hái cả cành, loại bỏ cành to, đem phơi khô trong râm.
2. Nhân hạt trắc bá: khi hạt già, hái quả đem phơi khô, xát bỏ vỏ ngoài lấy nhân rồi lại đem phơi trong râm cho thật khô.
1. Lá và cành tinh dầu trắc bá chủ yếu là Thujone, pinen, caryophyllen, camphor. Ngoài ra còn các chất nhựa, chất đắng, pinipicrin, quercetin.
2. Nhân hạt trắc bá chứa chất béo ,saponosid, tinh dầu.
1. Lá trắc : Dùng chữa các chứng bệnh nôn ra máu, chảy máu cam, lỵ ra máu, đái ra máu, băng huyết. Nước lá trắc bá tươi dùng chữa viêm xoang miệng. Liều dùng: 5-10g, sắc uống.
2. Nhân hạt trắc bá : Dùng chữa các chứng bệnh: hồi hộp, tim đập nhanh, mất ngủ, hay quên, người yếu, ra mồ hôi, táo bón. Liều dùng: 3-10g, sắc uống.