Dược liệu gmp-hs

Lá thường sơn: Có tác dụng trị sốt rét.Rễ thường sơn: Có tác dụng thổ đờm, thanh nhiệt, lợi tiểu.

Tên khoa học của cây thường sơn:

Dichroa febrifuga Lour họ Tú cầu (Hydrangeaceae)

Tên khác: Hoàng thường sơn (TQ)

Bộ phận dùng:

Lá, rễ.

Mô tả cây thường sơn:

Cây thường sơn là một cây nhỡ, rậm lá, thân rỗng dễ gãy, vỏ ngoài nhẵn màu tím. Lá mọc đối, hình mũi mác, hai đầu nhọn, mép có răng cưa, mặt trên xanh, mặt dưới tím đỏ, không có lông hoặc ít lông, hoa nhỏ màu xanh lam hay hồng tím, thành chùy nhiều hoa, mọc ở kẽ lá hay đầu cành. Quả mọng, màu xanh lam, hình tròn dài, một ngăn. Hạt nhiều.

Cây thường sơn mọc hoang ở rất nhiều nơi các tỉnh miền rừng núi nước ta

Thu hái chế biến:

Hái lá bánh tẻ, đem phơi nắng, thật nhanh rồi phơi khô trong râm.

Đào lấy rễ, rửa sạch đất cát, loại bỏ rễ con, rồi đem phơi.

Thành phần hóa học của cây thường sơn:

Dichhroin alpha , Dichroin beta , Dichroin gamma.

Ngoài ra còn các chất dichroidin, chất 4-quinazolon, những tinh thể calci oxalat.

Công dụng của cây thường sơn:

1. Lá thường sơn: Có tác dụng trị sốt rét

Liều dùng: 6-12g, sắc uống hoặc chế thành viên.

2. Rễ thường sơn:  Có tác dụng thổ đờm, thanh nhiệt, lợi tiểu.

Liều dùng: 5-10g tẩm rượu, sao qua, sắc uống:

Sản phẩm khác