Nhân táo dùng chữa các bệnh người yếu mệt, hồi hộp, không ngủ được, tim đập mạnh, hay quên, dễ bị kích thích, tự ra mồ hôi quá nhiều, tân dịch ít, miệng khô.

Zizyphus jujube Lamk họ Táo ta (Rhamnaceae).
Nhân táo chin,cùi thịt,lá táo.
Cây táo là một cây nhỡ, sống lâu năm có nhiều gai. Lá hình bầu dục, ngắn hoặc hơi nhọn dài, mặt trên xanh ve và nhẵn, mặt dưới trắng, có nhiều lông, mép có răng cưa. Lá mọc so le, có 3 đường gân chính, dọc theo chiều lá, nổi lên rất rõ. Hoa màu trắng, nhỏ, mọc thành xim ở kẽ lá. Quả hạch, có vỏ ngoài nhẵn, màu vàng lục, khi chín màu vàng, vỏ quả giữa dày, ăn ngon, vị ngọt hơi chua, trong có hạch cứng xù xì. Đập hạch ra sẽ được nhân táo hình dẹt, có màng nhẵn màu nâu. Cây táo được trồng và mọc hoang khắp nơi ở nước ta.
Nhân táo: Khi quả chín thu nhặt các hạt táo, đem ngâm nước, rửa sạch phơi khô, xay cho vỡ vỏ hạch cứng (chú ý không làm vỡ nát nhân) rồi sàng sẩy sạch lấy nhân. Xong phơi khô hoặc sấy nhẹ (50-60°C) cho thật khô.
dầu béo, phytosterol, albumin, ít tinh dầu, betulin, , acid botulinic, và nhiều vitamin C. Ngoài ra còn có saponin, trong đó có rutin, jujubosid và thành phần có phản ứng alcaloid.
Nhân táo dùng chữa các bệnh người yếu mệt, hồi hộp, không ngủ được, tim đập mạnh, hay quên, dễ bị kích thích, tự ra mồ hôi quá nhiều, tân dịch ít, miệng khô.
Theo Tây y, nhân hạt táo chua có tác dụng: an thần, giảm huyết áp, thúc đẻ.
Liều dùng: 6-12g, sao vàng, lửa nhẹ, sắc uống.
Bảo quản: Cần giữ kín, khô ráo, mát, tránh nóng, ẩm, thường xuyên phơi, sấy nhẹ lửa.