cây thài lài chữa các chứng bệnh: viêm họng, viêm amidan, viêm nhiễm niệu đạo, tiểu tiện khó khăn, có sỏi, đái đau buốt, viêm thận sinh phù thũng, phù thũng do một số bệnh về tim, viêm khớp, mụn nhọt sưng tấy, lúc khẩn cấp chữa cả khi rắn độc cắn.

Commelina communis L. họ Thài lài (Commelinaceae).
Rau Trai – Trai thường – Thài lài trắng – Áp chích thảo (TQ)
toàn thân.
Thài lài thuộc dạng cỏ (thảo) sống hàng năm, thân nhỏ, phân nhiều nhánh, thường mọc bò rạp đất, đầu nhánh ngóc lên cao 20-40cm, thân lá có lông mềm, ở các đốt có một số rễ đâm ra. Phiến lá hình mác, có bẹ ở gốc, gân song song. Cụm hoa hình xim, có những lá bắc bao quanh như hình con trai, trong đó có 2 hoa. Hoa gồm 3 lá đài, 3 cánh hoa màu lơ. Quả nang, gần hình trụ, có 4 hạt.
Thài lài mọc hoang ở nơi ẩm ướt, khắp vùng Đông Nam Á
Phần trên mặt đất, rửa sạch phơi nắng hoặc sấy khô
dolphin (là 1 glucosid), commelinin, awobamin,…
Chữa các chứng bệnh: viêm họng, viêm amidan, viêm nhiễm niệu đạo, tiểu tiện khó khăn, có sỏi, đái đau buốt, viêm thận sinh phù thũng, phù thũng do một số bệnh về tim, viêm khớp, mụn nhọt sưng tấy, lúc khẩn cấp chữa cả khi rắn độc cắn.
Liều dùng: 20-40g, sắc uống (tươi tăng lên 50-100g, hoặc hơn nữa).
Bảo quản: Để nơi khô mát, thoáng gió.