Ô dược (cây dầu đắng) dùng chứa các chứng bệnh: cảm mạo, khó thở, đờm tắc, hơi không lưu thông, đầy trướng, đau bụng tức ngực, ăn không tiêu, nôn mửa, đi đái rắt, đái sưng đau (sát khí) trẻ em có giun.

Lindera myrrha Merr.,
Ô dược nam là rễ cây dầu đắng phơi khô.
Cây dầu đắng là một cây nhỏ, cành gầy màu đen nhạt. Lá mọc so le hình bầu dục, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới có lông, hai gân phụ bắt đầu từ điểm cách cuống là 2mm, dài chừng 2/3 lá, mặt trên lõm, mặt dưới lồi lên. Lúc đầu có lông, sau nhẵn, mặt trên lõm thành rãnh. Hoa màu hồng nhạt, họp thành tán nhỏ. Quả mọng hình trứng. Toàn cây có mùi thơm vị đắng.
Cây dầu đắng mọc hoang ở nhiều tỉnh miền Bắc, nhất là tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,..
Thu Đào lấy rễ, loại bỏ rễ con, rửa sạch đất cát, phơi khô, hoặc cạo sạch vỏ ngoài, thái thành phiến phơi khô.
Hiện nay chưa rõ hoạt chất của ô dược nam.
Ô dược dùng chứa các chứng bệnh: cảm mạo, khó thở, đờm tắc, hơi không lưu thông, đầy trướng, đau bụng tức ngực, ăn không tiêu, nôn mửa, đi đái rắt, đái sưng đau (sát khí) trẻ em có giun.
Liều dùng: 5 – 10g. Sắc uống hoặc tán thành bột.
Bảo quản: Để nơi khô ráo, râm mát.