Dược liệu gmp-hs


Cây ngọc trúc dùng cho các bệnh : ho, sốt nóng, đau họng, miệng khát, tân dịch khô háo.Nhân dân dùng cho phụ nữ sau khi đẻ (bồi dưỡng) phòng sau khi đẻ yếu mệt bị chứng “sản hậu”.

cây ngọc trúc

Tên khoa học của cây ngọc trúc:

Polygonatum odoratum (Mill) Druce (P. officinale All),

họ Hành (Liliaceae)

Tên khác: Kào tử chúa (H’mông)

Bộ phận dùng: Thân – rễ .

Mô tả cây ngọc trúc:

Cây thảo, thân hơi uốn cong như cần câu, phía trên thân có lá mọc so le gần như thuôn, mọc rủ xuống, le 1 hay từng đôi, ở nách những lá lần ngọn, mỗi hoa có 3 cánh trắng, dính nhau hình ống dài 1,5cm, đường kính 0,5 – 0,8cm, có 6 nhị.Quả mọng tròn.

Ngọc trúc mọc hoang vùng núi cao, mát nước ta.

Thu hái chế biến:

Đào lấy thân – rễ (củ) , rửa sạch, tỉa rễ con đem phơi, đồ qua rồi lăn nhẹ, sau cùng phơi sấy nhẹ cho khô.

Thành phần hóa học của cây ngọc trúc:

Ngọc trúc chứa các chất convallamarin, convallarin, các acid chelidonic, acid nicotinic, vitamin A, chất nhầy, chất polysaccharid.

Công dụng của ngọc trúc:

Dùng cho các bệnh : ho, sốt nóng, đau họng, miệng khát, tân dịch khô háo.Nhân dân dùng cho phụ nữ sau khi đẻ (bồi dưỡng) phòng sau khi đẻ yếu mệt bị chứng “sản hậu”.

Liều dùng: 5 – 10g

Bảo quản: Để nơi khô mát.

 

Sản phẩm khác