Dược liệu gmp-hs


ba đậu vị cay tính nóng, rất độc, quy kinh vị, đại tràng. Ba đậu có tác dụng tả hàn tích, trục đờm, hành thủy.

 

Tên khác 

Mắc vát, cống khói, bã đậu, lão đương tử, giã tử, mãnh tử nhân.

Tên khoa học của ba đậu

Croton tiglium L.

Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae

Bộ phận dùng 

Hạt ba đậu

 Mô tả cây ba đậu

Cây nhỡ cao 3-6m, cành nhẵn. lá mọc so le, nguyên, hình trứng, đầu nhọn, mép có răng cưa nhỏ, dài 6-8cm, rộng 4-5cm, cuống nhỏ dài 1-2cm.

Hoa mọc thành chùm dài 10-20cm, ở đầu cành, hoa cái ở phía dưới, hoa đực ở đỉnh, cuống nhỏ dài 1-3mm.

Quả nang, nhẵn, màu vàng nhạt, cao 2cm, có 3 mảnh vỏ khi chín tách ra. Hạt hình trứng, ngoài có vỏ cứng, mờ, màu nâu xám  (khác hạt thầu dầu bóng và có vân).

Thành phần hóa học

Trong hạt ba đậu có 30-50% dầu, 18% protein, một glucozit là crotonozit (2-oxy 6-aminopurin-ribozit), một anbumoza rất độc là crotin, một alcaloit gần như chất rixinin trong dầu thầu dầu,…

Dầu ba đậu  lỏng sền sệt, có các glyxerit thư ờng gặp như stearin, panmitin,  ngoài ra còn có glyxerit của một số axit đặc biệt như axit crotonic, tiglic. Thành phần tẩy trong dầu ba đậu là chất nhựa croton  resin, chiếm 2-3%.

 Công dụng và liều dùng của cây ba đậu

Theo tài liệu cổ, ba đậu vị cay tính nóng, rất độc, quy kinh vị, đại tràng. Tác dụng tả hàn tích, trục đờm, hành thủy.

Tây y chỉ dùng dầu ba đậu làm thuốc lùa bệnh, trong những trường hợp tê thấp, viêm phổi, đau ruột, viêm phế quản. nếu dùng trên da bụng cần bảo vệ rốn bằng một miếng thuốc dán. Còn làm  thuốc tẩy mạnh, dùng trong trường hợp táo khó chữa, sau khi dùng các thuốc mà không có tác dụng. Nhưng thuốc rất độc xếp vào loại độc bảng A. Dùng ngoài với liều 6-7 giọt trộn với dầu lạc hay dầu thầu dầu.Uống trong với liều 1 giọt trộn với dầu hay ruột bánh mỳ ( hiện ít dùng).

Trong nhân dân, thường dùng dưới hình thức ba đậu sương , tức là hạt ba đậu ép bỏ đi hết dầu, dùng với liều 0,01-0,05g, phối hợp với thuốc khác.

 

 

Sản phẩm khác