Dược liệu gmp-hs


Ba kích có tác dụng bổ thận dương, mạnh gân cốt, khử phong thấp. Dùng chữa các bệnh liệt dương (dương suy) di mộng hoạt tinh, xuất tinh sớm, phụ nữ kinh nguyệt không đều, một số trường hợp vô sinh ở phụ nữ. Ba kích còn dùng chữa bệnh phong thấp, gân cốt yếu mềm, lưng gối mỏi đau.

Tên khoa học của cây ba kích

Morinda offcinalis How,

họ Cà phê (Rubiaceae)

Tên khác:

Ba kích thiên (TQ) - Cây ruột gà - Chẩu phóng xì (Quảng Ninh) - Thao tầy cáy- Ba kích nhục - Liên châu ba kích

Bộ phận dùng của cây ba kích:

Rễ cây ba kích (Radix Morindae Officinalis) phơi hay sấy khô.

Mô tả:

Cây ba kích là một cây cỏ, sống lâu năm, thân leo. Lá mọc đối, phiến cứng , hình mũi mác nhọn, mép nhẵn, dài 6-14cm, rộng 2-5cm, lá non có màu xanh, lá già có màu trắng mốc. Đầu mùa hạ nở hoa, lúc đầu trắng, sau thành vàng, 2-10 cánh hoa, 4 nhị. Quả hạc hình cầu, khi chín màu đỏ.

Cây ba kích mọc hoang nhiều ở Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Quảng Ninh dưới tán rừng.

Thành phần hóa học:

Trong rễ ba kích chủ yếu có chất anthraglucosid, rất ít tinh dầu, chất đường, nhựa và acid hữu cơ

Công dụng của cây ba kích:

Theo Đông y, ba kích vị cay ngọt, tính hơi ấm, vào kinh Thận.

Ba kích có tác dụng bổ thận dương, mạnh gân cốt, khử phong thấp.

Dùng chữa các bệnh liệt dương (dương suy) di mộng hoạt tinh, xuất tinh sớm, phụ nữ kinh nguyệt không đều, một số trường hợp vô sinh ở phụ nữ. Ba kích còn dùng chữa bệnh phong thấp, gân cốt yếu mềm, lưng gối mỏi đau.

Liều dùng:

3-9g một ngày, sắc hay ngâm rượu uống.

Sản phẩm khác