Bảy lá một hoa vị đắng, tính hơi lạnh, hơi độc có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trừ đờm, trừ ứ tụ, bị đòn ngã máu tụ sưng tấy. Bảy lá một hoa chữa nọc độc rắn cắn, chấn thương đau, co giật, mụn nhọt, sởi do thấp nhiệt, viêm họng, áp xe vú...
Paris polyphylla Sm.,
họ Hành (Liliaceae)
Thất diệp nhất chi hoa (TQ) - Tảo hưu - Độc cước liên
Thân rễ (củ) của cây bảy lá một hoa, đã chế biến khô (Rhizoma Paridis)
Cây thảo, sống lâu năm, hình dáng đặc biệt: từ thân rễ nhô lên mặt đất một thân thẳng đứng cao 30-100cm, giữa thân có 1 tầng lá mọc vòng gồm 4-8 lá (thường là 7), cuống lá dài 2-3cm, phiến lá hình mác dài 8-20cm, rộng 4-8cm, đầu phiến lá nhọn, mép nguyên, hai mặt nhẵn, mặt dưới màu xanh nhạt, họa mọc đơn độc ở đỉnh thân, cuống hoa dài 15-30cm, màu xanh gần như lá. Cánh hoa thuôn nhọn dài 4-7cm, lá đài hình sợi ở giữa, các cánh hoa, rủ xuống. Quả mọng màu tím đen, hạt màu vàng.
Cây bảy lá một hoa mọc hoang những khu rừng ẩm, gần suối, nơi đất có vôi ở các tỉnh Lao Cai, Ninh Bình (Cúc Phương), Hòa Bình, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang
Thân rễ thất diệp nhất chi hoa chứa các saponin: paridin C16H28O7 và paristaphin C38H64O18.
Theo Đông y, tảo hưu vị đắng, tính hơi lạnh, hơi độc có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trừ đờm, trừ ứ tụ, bị đòn ngã máu tụ sưng tấy.
Chữa nọc độc rắn cắn, chấn thương đau, co giật, mụn nhọt, sởi do thấp nhiệt, viêm họng, áp xe vú...
3-8g. (Sắc uống hoặc đắp bên ngoài chỗ đau).