Cây húng chanh chữa các chứng bệnh cảm cúm, ho hen, có đờm, sốt cao, không ra mồ hôi được, viêm họng hay viêm đường tiết liệu, tiêu hóa kém.

Coleus amboinicus Lour. (=Coleus aromaticus Benth = Plectranthus amboinicus (Lour.) Sperng) –
Rau thơm lông – Rau tần đầy lá
Lá tươi hoặc đã chế biến khô của cây húng chanh (Folium Colei).
Cây húng chanh thuộc loại thảo, có thể sống lâu năm, phần thân gần gốc hóa gỗ, cao 20 – 70cm. Lá mọc đối, có cuống, phiến lá dày, mọng nước, bẻ ròn, hình trứng đầu nhọn, mép khía răng thưa, dài 6 – 10cm, rộng 3 – 6cm, mặt trên có lông đơn, mặt dưới có nhiều lông bài tiết, các gân lá nổ rất rõ. Hoa nhỏ, mầu tía, mọc thành bông ở đầu cành và ngọn cây. Quả nhỏ, hình cầu, mầu nâu trong có hạt.
Cây được trồng làm thuốc và làm rau ăn.
Tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu là carvacrol.
Theo Đông y, húng chanh vị cay, hơi chua, tính ấm gần như không độc, và 2 kinh: Phế, Cam.
cây húng chanh có tác dụng: nhuận phổi, trừ đờm, phát hàn, giảm cảm, hạ sốt, tiêu độc.
Chữa các chứng bệnh cảm cúm, ho hen, có đờm, sốt cao, không ra mồ hôi được, viêm họng hay viêm đường tiết liệu, tiêu hóa kém.
Liều dùng: 10 – 15g lá tươi – Rửa kỹ, sạch, ăn tươi, hoặc rã, xay (máy sinh tố), ép lấy nước uống
Dùng ngoài da: Giã đắp chữa các vết thương do cồn trùng cắn, muỗi đốt